Tập 2 Số 8 (2026): Y học lão khoa trong kỷ nguyên cá thể hóa, công nghệ và phòng ngừa

Đã Xuất bản: 07-06-2026

Báo cáo tổng quan

CHĂM SÓC PHÒNG BỆNH Ở NGƯỜI CAO TUỔI: CẬP NHẬT BẰNG CHỨNG VÀ TIẾP CẬN TOÀN DIỆN

PREVENTIVE CARE IN THE ELDERLY: EVIDENCE UPDATE AND COMPREHENSIVE APPROACH

Lê Đình Thanh

Trang 1-8

Lượt tải: 0 Lượt xem: 0

DOI: 10.63947/bvtn.v2i8.1

Dân số người cao tuổi (≥60 tuổi) đang tăng nhanh trên toàn thế giới, dự kiến đạt 2,1 tỷ vào năm 2050. Việc chuyển dịch từ mô hình chữa bệnh sang phòng bệnh chủ động là yêu cầu cấp thiết trong y tế lão khoa hiện đại. Tổng quan các bằng chứng mới nhất (2022–2025) về các biện pháp chăm sóc phòng bệnh cho người cao tuổi. Tổng quan hệ thống từ PubMed, Cochrane Library, WHO (2022–2025). Can thiệp đa thành phần và khung ICOPE phiên bản 2 (WHO, 2025) là nền tảng thực hành chuẩn hóa cho chăm sóc phòng bệnh người cao tuổi.

Abstract:

The global elderly population (≥60 years) is rapidly growing, projected to reach 2.1 billion by 2050. To review the latest evidence (2022–2025) on preventive care for older adults. Multicomponent interventions and the WHO ICOPE framework 2nd edition (2025) provide the foundation for standardized preventive geriatric care at primary care level.


TẠI SAO CÓ NGƯỜI DỄ DUY TRÌ TẬP LUYỆN HƠN NGƯỜI KHÁC? VAI TRÒ CỦA YẾU TỐ DI TRUYỀN VÀ ỨNG DỤNG TRONG CHĂM SÓC SỨC KHỎE

WHY DO SOME INDIVIDUALS MAINTAIN EXERCISE MORE EASILY THAN OTHERS? THE ROLE OF GENETIC FACTORS AND APPLICATIONS IN HEALTHCARE

Nguyễn Ảnh Sang, Trần Quốc Doanh

Trang 9-15

Lượt tải: 0 Lượt xem: 0

DOI: 10.63947/bvtn.v2i8.2

Hành vi hoạt động thể chất có sự khác biệt đáng kể giữa các cá nhân, không thể giải thích hoàn toàn bởi yếu tố môi trường. Ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy yếu tố di truyền đóng vai trò quan trọng trong việc định hình khuynh hướng tham gia và duy trì tập luyện. Nghiên cứu này nhằm tổng hợp các bằng chứng về vai trò của di truyền trong hành vi hoạt động thể chất. Các nghiên cứu được tìm kiếm trên PubMed và Scopus trong giai đoạn 2000–2025, tập trung vào các nghiên cứu trên người đánh giá mối liên quan giữa yếu tố di truyền và hành vi hoạt động thể chất. Các nghiên cứu xác định nhiều vị trí di truyền liên quan đến mức độ hoạt động thể chất và khuynh hướng hành vi. Hệ thống thần kinh, đặc biệt là trục dopaminergic, được xác định là cơ chế trung tâm, cùng với các yếu tố tâm lý trung gian và tương tác gen và môi trường. Hành vi tập luyện chịu ảnh hưởng đa yếu tố, trong đó di truyền đóng vai trò đáng kể nhưng không mang tính quyết định. Cách tiếp cận cá thể hóa dựa trên đặc điểm sinh học và hành vi có tiềm năng nâng cao hiệu quả can thiệp vận động.

 

ỨNG DỤNG THÔNG MINH NHÂN TẠO (AI) TRONG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

APPLICATIONS OF ARTIFICIAL INTELLIGENCE IN SCIENTIFIC RESEARCH

Nguyễn Văn Tuấn

Trang 16-27

Lượt tải: 0 Lượt xem: 0

DOI: 10.63947/bvtn.v2i8.3

Trong vài năm gần đây, thông minh nhân tạo (Artificial Intelligence - AI) đã bước vào đời sống khoa học với tốc độ rất nhanh và trở thành một phần của quy trình nghiên cứu: từ hình thành câu hỏi, đọc văn liệu, thiết kế nghiên cứu, phát hiện thiên lệch, viết mã phân tích dữ liệu, soạn biểu đồ, đến viết và chỉnh sửa bản thảo khoa học. Nói cách khác, AI đang chuyển từ vai trò “công cụ phụ trợ” sang vai trò “trợ lý nghiên cứu”. Trong bài này, nhà nghiên cứu sẽ bàn về ứng dụng AI trong nghiên cứu khoa học theo hướng thực hành. Phần đầu định nghĩa AI và mô hình ngôn ngữ lớn. Các phần tiếp theo trình bày cách dùng AI trong phát biểu câu hỏi nghiên cứu, xây dựng giả thuyết, chọn thiết kế nghiên cứu, phát hiện thiên lệch và nhiễu, phân tích dữ liệu, và viết bài báo khoa học.

Abstract:

In recent years, Artificial Intelligence (AI) has rapidly entered the scientific world and become an integral part of the research process: from formulating questions, reviewing literature, designing studies, and detecting bias, to writing data analysis code, creating charts, and drafting or editing scientific manuscripts. In other words, AI is transitioning from a “supplementary tool” to a “research assistant”. In this paper, the researcher discusses the applications of AI in scientific research from a practical perspective. The first part defines AI and Large Language Models. The subsequent sections present how to utilize AI in formulating research questions, constructing hypotheses, selecting study designs, identifying bias and confounding factors, analyzing data, and writing scientific papers.


ỨNG DỤNG CT PHỔ TRONG CHẨN ĐOÁN VÀ ĐÁNH GIÁ BỆNH LÝ UNG BƯỚU TẠI BỆNH VIỆN THỐNG NHẤT

APPLICATION OF SPECTRAL CT IN ONCOLOGY AT THONG NHAT HOSPITAL

Bùi Thị Thanh Tâm, Nguyễn Chí Thành, Đỗ Võ Công Nguyên, Trần Thanh Phong

Trang 28-33

Lượt tải: 0 Lượt xem: 0

DOI: 10.63947/bvtn.v2i8.4

Cắt lớp vi tính phổ (Spectral CT) là một công nghệ tiên tiến đang ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong thực hành lâm sàng để chẩn đoán và đánh giá các bệnh lý ung bướu. Spectral CT cho phép phân tích mô chi tiết hơn so với CT thông thường, nhờ sử dụng các phổ năng lượng khác nhau trong quá trình chụp, giúp phân biệt các mô dựa trên đặc tính suy giảm tia X đặc trưng của chúng ở các mức năng lượng khác nhau. Các ứng dụng xử lý hậu kỳ phổ biến nhất của Spectral CT bao gồm: hình ảnh đơn năng lượng ảo (virtual monoenergetic images – MONO E), bản đồ mật độ i-ốt (iodine density overlay), hình ảnh không tiêm cản quang ảo (virtual non-contrast images– VNC), và hình ảnh loại bỏ canxi ảo (Calcium Suprression) .Các loại hình ảnh đa dạng thu được từ kỹ thuật DECT mang lại nhiều lợi ích như: tăng khả năng phát hiện và đặc điểm hóa tổn thương, xác định chính xác thành phần vật chất, giảm liều lượng i-ốt cần sử dụng, và giảm hiện tượng tạo ảnh giả (artifact). Những ứng dụng linh hoạt này đóng vai trò ngày càng quan trọng trong đánh giá khối u và chẩn đoán ung thư, bao gồm chẩn đoán khối u nguyên phát, đánh giá giai đoạn tại chỗ và di căn, theo dõi sau điều trị và xử lý biến chứng. Bài viết này xin trình bày tổng quan về các ứng dụng chính, kỹ thuật xử lý hậu kỳ trên các ca lâm sàng thực tế tại BV Thống Nhất- TP Hồ Chí nhằm làm rõ vai trò của Spectral CT trong quản lý bệnh nhân ung thư.


GIÁ TRỊ CỦA TRÍ TUỆ NHÂN TẠO (AI-QCT) TRONG NÂNG CAO ĐỘ CHÍNH XÁC CHẨN ĐOÁN VÀ PHÂN TẦNG NGUY CƠ MẢNG XƠ VỮA MẠCH VÀNH TRÊN CCTA

VALUE OF ARTIFICIAL INTELLIGENCE-ENABLED QUANTITATIVE COMPUTED TOMOGRAPHY (AI-QCT) IN ENHANCING DIAGNOSTIC ACCURACY AND RISK STRATIFICATION OF CORONARY PLAQUE ON CCTA

Hồ Trần Bảo Nhi, Trần Bảo Ngọc, Trần Thanh Ngọc, Bùi Xuân Khải

Trang 34-41

Lượt tải: 0 Lượt xem: 0

DOI: 10.63947/bvtn.v2i8.5

Nghiên cứu nhằm đánh giá vai trò của định lượng mảng xơ vữa tự động bằng trí tuệ nhân tạo (AI-QCT) trong việc nâng cao độ chính xác chẩn đoán và phân tầng nguy cơ so với đánh giá bằng mắt thường theo tiêu chuẩn CAD-RADS 2.0 trên bệnh nhân hẹp mạch vành không tắc nghẽn (<50%) qua chụp cắt lớp vi tính mạch vành (CCTA). Dữ liệu trích xuất từ Pubmed, Research Gate, Science Direct trong 6 năm gần đây. Các tiêu chí lựa chọn tập trung vào nghiên cứu lâm sàng về AI-QCT, đặc điểm mảng xơ vữa nguy cơ cao và hệ thống CAD-RADS 2.0. Kết quả ghi nhận AI-QCT mang lại hiệu quả vượt trội với độ nhạy trong phát hiện mảng xơ vữa nguy cơ cao (85%-94%, có thể đạt gần 99% ở một số nghiên cứu). Chỉ số diện tích dưới đường cong (AUC) trong phân tầng nguy cơ tim mạch đạt 0,8 đến 0,93 (đa số ≥ 0.85). Việc tích hợp AI-QCT vào phân tích CCTA và hệ thống CAD-RADS 2.0 mang giá trị chiến lược kép: triệt tiêu sai số chủ quan để tối ưu phân tầng nguy cơ và tạo nền tảng cá thể hóa điều trị dự phòng và nâng cao tiên lượng lâm sàng dài hạn cho bệnh nhân


TIẾP CẬN ĐỘNG MẠCH QUAY TRONG CAN THIỆP MẠCH VÀNH Ở NGƯỜI CAO TUỔI: CÁC BIẾN CHỨNG VÀ BIỆN PHÁP GIẢM NGUY CƠ

RADIAL ARTERY ACCESS FOR CORONARY INTERVENTION IN ELDERLY PATIENTS: COMPLICATIONS AND RISK REDUCTION STRATEGIES

Nguyễn Trung Hiếu, Phan Kiều Hưng, Ngô Văn Hào, Vũ Thi Lan Anh, Nguyễn Thị Thu Hiền, Nguyễn Hoàng Long, Đinh Minh Hoàng, Nguyễn Đức Hiếu

Trang 48-58

Lượt tải: 0 Lượt xem: 0

DOI: 10.63947/bvtn.v2i8.7

Số lượng người cao tuổi được chỉ định chụp và can thiệp động mạch vành qua da ngày càng gia tăng, dẫn đến nhu cầu cấp thiết trong kiểm soát biến chứng đường vào mạch máu, đặc biệt quan trọng ở nhóm bệnh nhân lão khoa vốn có nhiều yếu tố nguy cơ đặc thù. Mặc dù đường vào động mạch quay ưu thế hơn đường đùi về mặt biến chứng chảy máu và tử vong, người cao tuổi vẫn có nguy cơ cao hơn do các thay đổi giải phẫu và sinh lý đặc thù: mạch xoắn vặn, vôi hóa, lòng mạch hẹp, giảm đàn hồi; cùng với tình trạng suy yếu, đa bệnh lý, đa thuốc, suy giảm chức năng thận và rối loạn đông máu. Bài tổng quan này phân tích tỷ lệ, cơ chế bệnh sinh và các chiến lược giảm thiểu biến chứng đường vào động mạch quay ở người cao tuổi, bao gồm tiếp cận cá thể hóa: đánh giá nguy cơ lão khoa, siêu âm hướng dẫn chọc mạch, sheath slender, phương pháp băng ép cầm máu có paten, xem xét đường quay xa và tối ưu hóa thuốc kháng đông, kháng tiểu cầu. Đặc biệt, bài viết tổng hợp dữ liệu từ các thử nghiệm ngẫu nhiên, phân tích tổng hợp và dữ liệu thế giới thực, đồng thời nhìn nhận thực trạng và khoảng trống nghiên cứu tại Việt Nam.

Abstract:

The number of elderly patients undergoing coronary angiography and percutaneous coronary intervention is steadily increasing, creating an urgent need for effective management of vascular access complications, particularly important in geriatric patients with multiple specific risk factors. Although radial artery access is superior to femoral access in terms of bleeding and mortality, elderly patients remain at higher risk due to specific anatomical and physiological changes: arterial tortuosity, calcification, small luminal diameter, and reduced elasticity; coupled with frailty, multimorbidity, polypharmacy, impaired renal function, and coagulation disorders. This narrative review analyzes the incidence, pathophysiology, and risk reduction strategies for radial artery access complications in the elderly, including individualized approaches: geriatric risk assessment, ultrasound-guided puncture, slender sheaths, patent hemostasis techniques, distal radial access considerations, and optimized anticoagulation–antiplatelet therapy. Evidence from randomized trials, meta-analyses, and real-world data is synthesized, alongside an assessment of the current state and research gaps in Vietnam.


ỨNG DỤNG BOTULINUM TOXIN TRONG TẠO HÌNH THẨM MỸ: TỪ THON GỌN KHUÔN MẶT ĐẾN ĐỊNH HÌNH CƠ THỂ

BOTULINUM TOXIN IN AESTHETIC CONTOURING: FROM FACIAL SLIMMING TO BODY CONTOURING

Nguyễn Thị Trà My, Nguyễn Ảnh Sang

Trang 78-84

Lượt tải: 0 Lượt xem: 0

DOI: 10.63947/bvtn.v2i8.11

Botulinum toxin type A (BTX-A) là một trong những công cụ quan trọng trong tạo hình thẩm mỹ không xâm lấn. Ban đầu được sử dụng chủ yếu để làm giảm nếp nhăn, BTX-A hiện nay được ứng dụng rộng rãi trong làm thon gọn khuôn mặt và định hình cơ thể. Tuy nhiên, sự khác biệt về đặc điểm giải phẫu, sinh lý cơ và đáp ứng điều trị giữa các vùng vẫn chưa được tổng hợp một cách hệ thống. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu được thực hiện dưới dạng tổng quan tường thuật, thông qua tìm kiếm các cơ sở dữ liệu PubMed, Scopus và Web of Science có liên quan đến ứng dụng BTX-A trong tạo hình thẩm mỹ khuôn mặt và cơ thể. Kết quả: BTX-A cho thấy hiệu quả rõ rệt trong việc giảm thể tích cơ và cải thiện contour ở nhiều vùng giải phẫu. Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả bao gồm liều lượng, kỹ thuật tiêm, đặc điểm cơ và yếu tố cá thể. Sự khác biệt đáng kể giữa tạo hình khuôn mặt và cơ thể cho thấy cần có cách tiếp cận riêng biệt cho từng vùng; Kết luận: BTX-A là một phương pháp hiệu quả và an toàn trong tạo hình thẩm mỹ. Việc tối ưu hóa hiệu quả điều trị đòi hỏi hiểu biết sâu về giải phẫu, cơ chế tác dụng và cá thể hóa kỹ thuật tiêm. Các nghiên cứu trong tương lai cần tập trung vào chuẩn hóa liều lượng và phát triển các mô hình điều trị cá thể hóa nhằm nâng cao hiệu quả và độ an toàn.

 

ĐIỀU TRỊ RÁM MÁ BẰNG TIÊM VI ĐIỂM NỘI BÌ: TỪ CƠ CHẾ BỆNH SINH ĐẾN ỨNG DỤNG LÂM SÀNG

MICROINJECTION-BASED THERAPIES FOR MELASMA: CURRENT EVIDENCE AND PRACTICAL CLINICAL APPROACHES

Nguyễn Thị Trà My, Nguyễn Ảnh Sang

Trang 85-93

Lượt tải: 0 Lượt xem: 0

DOI: 10.63947/bvtn.v2i8.12

Rám má là một rối loạn tăng sắc tố mạn tính phức tạp, liên quan đến nhiều cơ chế bệnh sinh như tăng hoạt động tế bào sắc tố, viêm mạn tính mức độ thấp, mất cân bằng giữa các hoạt động của gốc tự do và chất chống oxy hóa, và biến đổi vi mạch. Các phương pháp điều trị hiện nay còn nhiều hạn chế về hiệu quả lâu dài và nguy cơ tái phát. Tiêm vi điểm nội bì nổi lên như một hướng tiếp cận mới nhằm đưa hoạt chất trực tiếp vào lớp trung bì, tác động đa cơ chế. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu tổng quan tường thuật được thực hiện thông qua tìm kiếm các tài liệu khoa học trên các cơ sở dữ liệu y sinh học quốc tế, tập trung vào các nghiên cứu đánh giá hiệu quả và cơ chế của tiêm vi điểm trong điều trị rám má. Kết quả: Các bằng chứng cho thấy tiêm vi điểm, đặc biệt với tranexamic acid, có khả năng cải thiện đáng kể sắc tố da thông qua ức chế tổng hợp melanin, giảm viêm và điều hòa yếu tố mạch máu. Phương pháp này cho hiệu quả nhanh hơn so với điều trị tại chỗ và có độ an toàn cao hơn so với các kỹ thuật sử dụng năng lượng ở bệnh nhân da sẫm màu. Tuy nhiên, hiệu quả duy trì còn phụ thuộc vào chiến lược điều trị kết hợp và kiểm soát yếu tố nguy cơ. Kết luận: Tiêm vi điểm là một phương pháp có cơ sở sinh học vững chắc và tiềm năng ứng dụng cao trong điều trị rám má. Việc tối ưu hóa kỹ thuật và tích hợp trong phác đồ đa mô thức là chìa khóa để nâng cao hiệu quả và hạn chế tái phát.

 

THỜI ĐIỂM TẬP LUYỆN TRONG NGÀY, NHỊP SINH HỌC VÀ CÁC ĐÁP ỨNG SINH LÝ: Ý NGHĨA TRONG CHĂM SÓC SỨC KHỎE CÁ THỂ HÓA

EXERCISE TIMING, CIRCADIAN BIOLOGY, AND PHYSIOLOGICAL ADAPTATION: IMPLICATIONS FOR PERSONALIZED HEALTH STRATEGIES

Nguyễn Ảnh Sang, Trần Quốc Doanh

Trang 94-99

Lượt tải: 0 Lượt xem: 0

DOI: 10.63947/bvtn.v2i8.13

Hoạt động thể chất đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sức khỏe, tuy nhiên, các khuyến cáo hiện nay chủ yếu tập trung vào cường độ và thời lượng tập luyện, trong khi thời điểm tập luyện trong ngày chưa được xem xét đầy đủ. Các bằng chứng gần đây cho thấy nhịp sinh học có thể ảnh hưởng đáng kể đến đáp ứng sinh lý đối với tập luyện. Đối tượng và phương pháp: Tổng quan tường thuật các nghiên cứu từ PubMed và Scopus trong giai đoạn 1996–2026. Các nghiên cứu bao gồm nghiên cứu thực nghiệm, quan sát, tổng quan hệ thống và phân tích gộp được lựa chọn. Kết quả: Hiệu suất vận động, đặc biệt là sức mạnh và sức bền, đạt mức cao nhất vào buổi chiều hoặc đầu buổi tối. Ngược lại, tập luyện vào buổi sáng, đặc biệt trong trạng thái nhịn ăn, có thể cải thiện chuyển hóa lipid và độ nhạy insulin, trong khi tập luyện buổi tối có thể hỗ trợ kiểm soát đường huyết. Kiểu nhịp sinh học cá thể đóng vai trò quan trọng trong điều hòa các đáp ứng này. Kết luận: Không tồn tại thời điểm tập luyện tối ưu chung cho mọi đối tượng. Việc cá thể hóa thời điểm tập luyện dựa trên nhịp sinh học có thể giúp tối ưu hóa hiệu quả can thiệp. Cần có thêm các nghiên cứu dài hạn để xây dựng khuyến cáo thực hành có giá trị.

Abstract:

Exercise is a cornerstone of health promotion, yet current guidelines primarily emphasize frequency, intensity, and duration, with limited attention to the timing of exercise. Emerging evidence suggests that physiological responses to exercise are modulated by circadian rhythms, potentially influencing performance, metabolic outcomes, and sleep quality. Materials and methods: A narrative review was conducted using studies retrieved from PubMed and Scopus, covering the period from 1996 to 2026. A total of relevant studies, including experimental studies, observational studies, systematic reviews, and meta-analyses, were included. Results: Physical performance, particularly muscle strength and endurance, tends to peak in the afternoon or early evening, corresponding with higher core body temperature and optimal neuromuscular function. In contrast, morning exercise, especially in the fasted state, may enhance fat oxidation and insulin sensitivity, while evening exercise may improve postprandial glycemic control. Importantly, chronotype significantly influences these responses. Conclusion: There is no universal optimal time for exercise. Instead, aligning exercise timing with individual circadian characteristics may optimize physiological benefits. Future research should focus on long-term, stratified interventions to establish personalized exercise timing recommendations.

Nghiên cứu gốc

GIÁ TRỊ CỦA CHỤP MẠCH BẰNG X QUANG CẮT LỚP VI TÍNH TRONG CHẨN ĐOÁN XUẤT HUYẾT TIÊU HÓA

DIAGNOSTIC VALUE OF COMPUTED TOMOGRAPHY ANGIOGRAPHY IN THE DIAGNOSIS OF GASTROINTESTINAL HEMORRHAGE

Nguyễn Thị Mai Hạnh, Huỳnh Chung, Đỗ Võ Công Nguyên

Trang 42-47

Lượt tải: 0 Lượt xem: 0

DOI: 10.63947/bvtn.v2i8.6

Xuất huyết tiêu hóa (XHTH) là cấp cứu nội - ngoại khoa thường gặp, có tỷ lệ mắc bệnh và tử vong cao. Việc xác định nhanh và chính xác vị trí cũng như nguyên nhân xuất huyết là cần thiết để hướng dẫn can thiệp kịp thời. Chụp mạch bằng X-quang cắt lớp vi tính (CTA) đã trở thành một phương pháp hình ảnh hiện đại, không xâm lấn, có khả năng phát hiện chảy máu hoạt động với độ nhạy và độ đặc hiệu cao. Nghiên cứu này nhằm mô tả đặc điểm hình ảnh CTA ở bệnh nhân XHTH và đánh giá giá trị của CTA trong chẩn đoán và xác định vị trí xuất huyết. Nghiên cứu cắt ngang thực hiện tại Bệnh viện Thống Nhất, TP.HCM từ tháng 5/2024 đến 5/2025 trên 31 bệnh nhân ≥18 tuổi nghi ngờ XHTH, được chụp CTA khi nội soi thất bại và có xác định bằng nội soi, chụp mạch số hoá xoá nền (DSA) hoặc phẫu thuật. Dữ liệu được phân tích bằng SPSS 20.0, tính toán độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị dự đoán dương (PPV) và giá trị dự đoán âm (NPV). Trong 31 bệnh nhân (71% nam; tuổi trung bình 62,5 ± 17,1), dấu hiệu CTA thường gặp nhất là thuốc cản quang thoát mạch ở thì động mạch >90 HU (38,7%), trong đó 50% thay đổi đậm độ và 33,3% thay đổi hình dạng ở thì tĩnh mạch. Các dấu hiệu khác gồm thâm nhiễm mỡ quanh ruột (32,3%), tăng ngấm thuốc thành ruột (6,5%). CTA có độ nhạy 73,9%, độ đặc hiệu 87,5%, PPV 94,4%, NPV 53,9% và độ chính xác 77,4%. Vị trí xuất huyết hay gặp nhất là ruột non (27,8%). Nguyên nhân chủ yếu là loét (22,2%) và u GIST (16,7%). CTA là phương pháp có giá trị cao, không xâm lấn để chẩn đoán và định vị XHTH, đặc biệt hữu ích khi nội soi thất bại, với độ đặc hiệu cao và ứng dụng tốt trong thực hành lâm sàng.

Abstract:

Gastrointestinal hemorrhage (GIH) is a common medical-surgical emergency with high morbidity and mortality rates. Rapid and accurate identification of the location and cause of bleeding is essential to guide timely intervention. Computed tomography angiography (CTA) has emerged as a modern, non-invasive imaging method capable of detecting active bleeding with high sensitivity and specificity. This study aimed to describe the CTA imaging characteristics in patients with GIH and evaluate the value of CTA in diagnosing and localizing hemorrhage. A cross-sectional study was conducted at Thong Nhat Hospital, Ho Chi Minh City, from May 2024 to May 2025, involving 31 patients ≥18 years old with suspected GIH who underwent CTA when endoscopy failed and were confirmed by endoscopy, digital subtraction angiography (DSA), or surgery. Data were analyzed using SPSS 20.0, calculating sensitivity, specificity, positive predictive value (PPV), and negative predictive value (NPV). Among 31 patients (71% male; mean age 62.5 ± 17.1 years), the most common CTA finding was contrast extravasation in the arterial phase >90 HU (38.7%), of which 50% showed changes in density and 33.3% showed morphological changes in the venous phase. Other findings included perienteric fat stranding (32.3%) and bowel wall enhancement (6.5%). CTA had a sensitivity of 73.9%, specificity of 87.5%, PPV of 94.4%, NPV of 53.9%, and accuracy of 77.4%. The most common bleeding site was the small bowel (27.8%). The main causes were ulceration (22.2%) and GIST tumors (16.7%). CTA is a highly valuable, non-invasive method for diagnosing and localizing GIH, particularly useful when endoscopy fails, with high specificity and good applicability in clinical practice.


ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH NHÂN CAO TUỔI BỊ ĐỘT QUỴ NHỒI MÁU NÃO TẠI BỆNH VIỆN THỐNG NHẤT

CLINICAL AND PARACLINICAL CHARACTERISTICS AND TREATMENT OUTCOMES OF ELDERLY PATIENTS WITH ISCHEMIC STROKE AT THONG NHAT HOSPITAL

Nguyễn Thị Phương Nga, Nguyễn Phạm Hoàng Long, Trần Thị Hồng Nhung

Trang 59-64

Lượt tải: 0 Lượt xem: 0

DOI: 10.63947/bvtn.v2i8.8

Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị nhồi máu não ở bệnh nhân từ 60 tuổi trở lên tại Bệnh viện Thống Nhất. Nghiên cứu mô tả tiến cứu thu thập 242 bệnh nhân nhồi máu não cấp từ 60 tuổi trở lên tại khoa Nội Thần kinh, bệnh viện Thống Nhất từ tháng 2 năm 2025 đến tháng 8 năm 2025. Nghiên cứu ghi nhận tuổi trung vị toàn mẫu là 71 tuổi, nam 69 tuổi và nữ 76 tuổi. Nam giới chiếm 63,4%. Tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ phổ biến nhất, chiếm 75,6% bệnh nhân, kế đến là đái tháo đường và rối loạn lipid máu, rung nhĩ chiếm tỉ lệ rất thấp. LDL- Cholesterol trung bình 117,9 ± 50,7 mg/dl. NIHSS thấp (0–5) chiếm 58,8% nam và 57,3% nữ tại nhập viện. Tỷ lệ hồi phục tốt (NIHSS thấp) sau điều trị: 80,4% nam và 64% nữ. Giới nữ có liên quan đến kết cục điều trị xấu đi. Tỉ lệ điều trị tái thông là 21,1%. Nguyên nhân nhồi máu não xác định được, mạch máu nhỏ là nguyên nhân phổ biến nhất chiếm 26,4%. Vẫn còn 47,9% bệnh nhân có nguyên nhân không xác định. Bệnh nhân nhồi máu não ≥60 tuổi tại Bệnh viện Thống Nhất mang những đặc điểm phù hợp với xu hướng toàn cầu, nhưng cũng tồn tại những đặc trưng về yếu tố nguy cơ và căn nguyên.

Abstract:

This study aimed to characterize the clinical, paraclinical, and therapeutic features of ischemic stroke in patients aged 60 years and older treated at Thong Nhat Hospital. A prospective descriptive design was applied to 242 patients aged ≥60 years who were admitted with acute ischemic stroke to the Department of Neurology, Thong Nhat Hospital, between February and August 2025. The median age of the cohort was 71 years (69 years in males and 76 years in females). Males accounted for 63,4% of the sample. Hypertension was the most prevalent risk factor, present in 75,6% of patients, followed by diabetes mellitus and dyslipidemia, while atrial fibrillation was rare. The mean LDL-cholesterol level was 117,9 ± 50,7 mg/dl. At admission, low NIHSS scores (0–5) were observed in 58,8% of males and 57,3% of females. Favorable recovery (low NIHSS scores) after treatment was achieved in 80,4% of males and 64% of females. Female sex is associated with poorer treatment outcomes. The rate of reperfusion therapy was 21,1%. Among identifiable etiologies, small vessel disease was the most common, accounting for 26,4%. However, 47,9% of patients had undetermined causes. Ischemic stroke patients aged ≥60 years at Thong Nhat Hospital exhibit characteristics consistent with global trends, while also presenting distinctive features regarding risk factors and etiologies.


KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM NỘI SOI, CT-SCAN VÀ VỊ TRÍ CHÂN BÁM CỦA POLYP KILLIAN

EVALUATION OF ENDOSCOPIC, CT SCAN FEATURES AND ATTACHMENT SITE OF KILLIAN’S POLYP

Nguyễn Thị Hà, Trần Phan Chung Thuỷ

Trang 69-77

Lượt tải: 0 Lượt xem: 0

DOI: 10.63947/bvtn.v2i8.10

Polyp Killian (Antrochoanal polyp) chiếm khoảng 4% - 6% tổng số polyp mũi nói chung. Tuy nhiên, vị trí chân bám của polyp Killian nằm trong lòng xoang hàm nên khó tiếp cận trực tiếp để loại bỏ
chân bám dẫn đến tỷ lệ tái phát sau phẫu thuật còn cao. Theo nghiên cứu của F. Galluzzi 2018 tỷ lệ tái phát sau phẫu thuật là 15%. Vì vậy, cần xác định vị trí chân bám của polyp Killian. Mục tiêu nghiên cứu: Khảo sát đặc điểm nội soi, CT-scan và vị trí chân bám của polyp Killian. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: NC mô tả hàng loạt ca bệnh, cách lấy mẫu hồi cứu và tiến cứu. Kết quả nghiên cứu: Tỉ lệ nam nhiều hơn nữ 1,85/1. Hầu hết BN đến khám ở giai đoạn muộn che lấp cửa mũi sau 1 phần hay hoàn toàn 89.2%. Hình ảnh mờ các xoang cùng bên polyp Killian trên CT-scan theo thứ tự lần lượt là xoang hàm 100%, xoang sàng trước 67.6%, sàng sau 41.5%, xoang trán 24.3%, xoang bướm 16.2%. Lỗ thông xoang hàm phụ ở bên có polyp Killian chiếm 49% trên CT-scan, đối bên chiếm 16.2%, có sự liên quan với nhau có ý nghĩa thống kê (p=0.018<0.05). Trong 37 BN có polyp Killian, có 6 chiếm 16.2% ca có nang xoang hàm bên đối diện. Cả 6 ca đều có polyp kích thước nhỏ nằm trong lòng xoang hàm và đọc được vị trí chân bám. Trên CT-scan có 16.2% mờ xoang hàm một phần thì xác định được vị trí chân, 83.8% mờ toàn bộ không xác định được. Polyp Killian thường xuất phát ở thành trong (13 ca, 35.1%), thành sau (9 ca, 24.3%), thành dưới (4 ca, 10.8%), rất hiếm ở thành trước (3 ca, 8.1%) và không có trường hợp nào xuất phát ở thành trên xoang hàm. Trong phẫu thuật xác định lỗ thông xoang hàm phụ rõ ràng và chính xác hơn trên CT-scan lần lượt là 59.5% và 49%. Hình ảnh concha bullosa không có liên quan đến polyp Killian (p>0.05). Có 20/37 (54%) ca vẹo vách ngăn. Không có sự liên quan có ý nghĩa thống kê giữa vị trí polyp Killian và bên vẹo vách ngăn (P=0.501>0.05). Kết luận: Hầu hết các BN đến khám ở giai đoạn muộn. Hình ảnh mờ xoang hàm, sàng thường gặp nhất trên BN có polyp Killian. Có sự liên quan có ý nghĩa thống kê giữa lỗ thông xoang hàm phụ và bên có polyp Killian. Vị trí chân bám của polyp Killian trong phẫu thuật xác định rõ hơn trên CT-scan.

Abstract:

Killian’s polyp (antrochoanal polyp) accounts for approximately 4% to 6% of all nasal polyps. However, the attachment site of Killian’s polyp is located within the maxillary sinus, making it difficult to visualize and access directly. According to a study by F. Galluzzi in 2018, the recurrence rate after surgery is 15%. Therefore, identifying the attachment site of Killian’s polyp is essential. Objective: To investigate the endoscopic and CT-scan characteristics, as well as the attachment site of Killian’s polyp. Materials and Methods: A case series study using both retrospective and prospective sampling methods. Results: The male-to-female ratio was 1.85:1. Most patients presented in the late stage, with 89.2% showing partial or complete obstruction of the choana. On CT scan, opacification of sinuses on the same side as the polyp was observed in the following order: maxillary sinus (100%), anterior ethmoid (67.6%), posterior ethmoid (41.5%), frontal sinus (24.3%), and sphenoid sinus (16.2%). An accessory maxillary sinus ostium was detected on the polyp side in 49% of cases and on the contralateral side in 16.2%, with a statistically significant association (p = 0.018 < 0.05). Among 37 patients with Killian’s polyp, 6 (16.2%) had contralateral maxillary sinus cysts. All six of these had small polyps within the maxillary sinus, and the attachment site was identifiable. In 16.2% of cases with partial opacification of the maxillary sinus on CT scan, the attachment site could be determined, whereas in 83.8% with complete opacification, the site could not be identified. Killian’s polyp most commonly originated from the medial wall (13 cases, 35.1%), followed by the posterior wall (9 cases, 24.3%), inferior wall (4 cases, 10.8%), and rarely from the anterior wall (3 cases, 8.1%). No cases originated from the superior wall of the maxillary sinus. During surgery, the accessory maxillary ostium was more clearly and accurately identified than on CT scans (59.5% vs. 49%). The presence of concha bullosa was not associated with Killian’s polyp (p > 0.05). Nasal septal deviation was observed in 20 of 37 cases (54%). There was no statistically significant correlation between the polyp’s side and the side of septal deviation (p = 0.501 > 0.05). Conclusion: Most patients presented at a late stage. Maxillary and ethmoid sinus opacification are the most common imaging findings in patients with Killian’s polyp. There is a statistically significant association between the presence of an accessory maxillary ostium and the side of the Killian’s polyp. The polyp attachment site is more clearly identified during surgery than on CT scans.


ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở BỆNH NHÂN SAU PHẪU THUẬT NỘI SOI CẮT DẠ DÀY TẠI BỆNH VIỆN THỐNG NHẤT

ASSESSMENT OF NUTRITIONAL STATUS AND RELATED FACTORS IN PATIENTS AFTER LAPAROSCOPIC GASTRECTOMY AT THONG NHAT HOSPITAL

Nguyễn Văn Hưng, Đỗ Duy Đạt, Phạm Thị Hiền Diệu, Nguyễn Thanh Thuỷ, Trần Tố Trinh

Trang 100-106

Lượt tải: 0 Lượt xem: 0

DOI: 10.63947/bvtn.v2i8.14

Đánh giá tình trạng dinh dưỡng và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân sau phẫu thuật nội soi cắt dạ dày. Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên 30 bệnh nhân phẫu thuật nội soi cắt dạ dày tại Bệnh viện Thống Nhất giai đoạn 01/2021–12/2024. Các biến số gồm đặc điểm lâm sàng, chỉ số sinh hóa, triệu chứng tiêu hóa sau mổ, khẩu phần dinh dưỡng. Phân tích thống kê mô tả, so sánh nhóm theo các yếu tố can thiệp/đặc điểm phẫu thuật. Đa số người bệnh là nam, tuổi trung bình gần 60; chẩn đoán chủ yếu là ung thư dạ dày. Sau mổ 3 tháng, người bệnh sụt cân trung bình khoảng 9–10%, BMI giảm, đồng thời albumin và hemoglobin giảm. Khoảng 40% người bệnh có biểu hiện suy dinh dưỡng. Triệu chứng tiêu hóa thường gặp gồm chán ăn, buồn nôn/nôn và hội chứng Dumping. Tình trạng dinh dưỡng có liên quan đáng kể với loại phẫu thuật (đặc biệt cắt toàn bộ), bổ sung vi chất và mức độ được tư vấn dinh dưỡng. Suy dinh dưỡng sau phẫu thuật nội soi cắt dạ dày vẫn là thách thức lâm sàng quan trọng. Cần sàng lọc định kỳ, theo dõi hệ thống và can thiệp sớm; trong đó, tối ưu dung nạp ăn uống, tăng cường tư vấn dinh dưỡng và bổ sung vi chất phù hợp có thể cải thiện kết cục điều trị và chất lượng sống.

Abstract:

To describe nutritional status and selected related factors in patients after laparoscopic gastrectomy at Thong Nhat Hospital. This retrospective descriptive study included 30 patients who underwent laparoscopic gastrectomy from January 2021 to December 2024 and had available baseline and 3-month postoperative follow-up data. Variables included clinical characteristics, type of surgery, adjuvant chemotherapy, gastrointestinal symptoms, dietary tolerance, oral nutritional supplement (ONS) use, micronutrient supplementation, anthropometric indices, and biochemical parameters. Nutritional status was classified using the Subjective Global Assessment (SGA). Dietary intake was assessed from follow-up records/nutrition notes, focusing on meal frequency, tolerance, ONS use, and clinically recorded achievement of energy–protein intake. Given the retrospective design and small sample size, comparisons were considered exploratory and intended to describe between-group differences rather than infer causality. Most patients were male, with a mean age of nearly 60 years; gastric cancer was the main diagnosis. At 3 months postoperatively, patients had an average weight loss of approximately 9–10%, decreased BMI, and lower albumin and hemoglobin levels. Approximately 40% of patients were classified as malnourished or at risk by SGA. Common gastrointestinal symptoms included anorexia, nausea/vomiting, and dumping syndrome/symptoms suggestive of dumping. Malnutrition after laparoscopic gastrectomy requires proactive monitoring. Periodic screening, assessment of dietary tolerance, standardized nutritional counseling, appropriate micronutrient supplementation, and larger prospective studies are needed to further evaluate associated factors.


THỰC TRẠNG DINH DƯỠNG Ở NGƯỜI BỆNH UNG THƯ ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA VÙNG TÂY NGUYÊN NĂM 2025

NUTRITIONAL STATUS OF CANCER PATIENTS UNDERGOING TREATMENT AT TAY NGUYENREGIONAL GENERAL HOSPITAL IN 2025

Lê Thảo, Nguyễn Thị Thanh Vân, Chu Thị Giang Thanh

Trang 107-112

Lượt tải: 0 Lượt xem: 0

DOI: 10.63947/bvtn.v2i8.15

Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của người bệnh ung thư đang điều trị tại khoa Ung bướu, Bệnh viện Đa khoa Vùng Tây Nguyên năm 2025. Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 80 bệnh nhân ung thư điều trị nội trú từ tháng 08 đến tháng 10 năm 2025. Tình trạng dinh dưỡng được đánh giá bằng chỉ số khối cơ thể (BMI) và bộ công cụ PG-SGA. Tỷ lệ suy dinh dưỡng theo BMI là 58,8%. Theo PG-SGA, 66,3% bệnh nhân có nguy cơ suy dinh dưỡng hoặc suy dinh dưỡng, trong đó suy dinh dưỡng nặng chiếm 16,2%. Triệu chứng phổ biến nhất là mệt mỏi (70,0%), chán ăn (65,0%) và buồn nôn (58,0%). Tỷ lệ suy dinh dưỡng và nguy cơ suy dinh dưỡng ở người bệnh ung thư là rất cao. Cần tăng cường sàng lọc, đánh giá dinh dưỡng sớm và can thiệp dinh dưỡng kịp thời trong quá trình điều trị.

Abstract:

To evaluate the nutritional status of cancer patients undergoing treatment at the Oncology Department, Tay Nguyen Regional General Hospital in 2025. A cross-sectional descriptive study was conducted on 80 inpatient cancer patients from August to October 2025. Nutritional status was assessed using the Body Mass Index (BMI) and the Patient-Generated Subjective Global Assessment (PG-SGA) tool. The rate of malnutrition according to BMI was 58.8%. According to PG-SGA, 66.3% of patients were at risk of malnutrition or were malnourished, severe malnutrition accounting for 16.2%. The most common symptoms were fatigue (70.0%), anorexia (65.0%), and nausea (58.0%). The rate of malnutrition and the risk of malnutrition among cancer patients are very high. It is necessary to strengthen nutritional screening, early nutritional assessment, and timely nutritional intervention during the treatment process.

 


KIẾN THỨC VỀ VIRUS HPV VÀ BỆNH UNG THƯ CỔ TỬ CUNG CỦA SINH VIÊN KHOA Y DƯỢC, TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN

KNOWLEDGE OF HPV AND CERVICAL CANCER AMONG MEDICAL AND PHARMACEUTICAL STUDENTS AT TAY NGUYEN UNIVERSITY

Đặng Tuyết Ngân, Nguyễn Thị Kim Quyên

Trang 113-118

Lượt tải: 0 Lượt xem: 0

DOI: 10.63947/bvtn.v2i8.16

Human Papillomavirus (HPV) là tác nhân chính gây ung thư cổ tử cung (UTCTC) và các bệnh lý u nhú sinh dục, đặc biệt phổ biến tại các nước đang phát triển. Do đó, việc trang bị kiến thức chuyên sâu về dự phòng bằng vắc-xin cho sinh viên khối ngành Y Dược là yêu cầu cấp thiết nhằm tối ưu hóa hiệu quả tư vấn và chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Do đó, nghiên cứu này nhằm xác định tỉ lệ kiến thức đạt về virus HPV và bệnh ung thư cổ tử cung của sinh viên tại Khoa Y Dược, Trường Đại học Tây Nguyên năm 2025. Nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện trên 210 sinh viên khoa Y dược, Trường Đại học Tây Nguyên từ tháng 3/2025 đến tháng 6/2025. Tỷ lệ sinh viên có kiến thức đạt về virus HPV ở mức cao, chiếm 93,3%. Tuy nhiên, kiến thức về bệnh lý UTCTC còn hạn chế chỉ chiếm 38,6%. Đa số sinh viên có kiến thức tốt về HPV và vắc-xin, nhưng cần cải thiện kiến thức chuyên sâu về bệnh UTCTC và các biện pháp tầm soát sau tiêm.

Abstract:

Human Papillomavirus (HPV) is the primary causative agent of cervical cancer and genital warts, particularly prevalent in developing countries. Therefore, equipping medical and pharmaceutical students with in-depth knowledge of vaccine prevention is an urgent requirement to optimize the effectiveness of health counseling and community care. This study aimed to determine the rate of adequate knowledge regarding HPV and cervical cancer among students at the Faculty of Medicine and Pharmacy, Tay Nguyen University, in 2025. A cross-sectional descriptive study was conducted on 210 medical and pharmaceutical students at Tay Nguyen University from March 2025 to June 2025. The proportion of students with adequate knowledge of HPV was high, accounting for 93.3%. However, knowledge regarding cervical cancer pathology remained limited, with only 38.6% of participants achieving an adequate level. While the majority of students demonstrated good knowledge of HPV and its vaccine, there is a significant need to improve specialized knowledge concerning cervical cancer and post-vaccination screening measures.


KIẾN THỨC NGỪA THAI SAU SINH CỦA SẢN PHỤ TẠI KHOA PHỤ SẢN, BỆNH VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN

KNOWLEDGE OF POSTPARTUM CONTRACEPTION AMONG MOTHERS AT THE DEPARTMENT OFOBSTETRICS AND GYNECOLOGY, TAY NGUYEN UNIVERSITY HOSPITAL

Nguyễn Thị Kim Quyên, Phan Thị Huyền Trang, Lê Đặng Bảo Doanh

Trang 119-125

Lượt tải: 0 Lượt xem: 0

DOI: 10.63947/bvtn.v2i8.17

Giai đoạn 6 tuần sau sinh có ý nghĩa sống còn đối với sức khỏe của cả mẹ và bé, trong đó Việc sử dụng biện pháp tránh thai trong 6 tuần sau sinh là yếu tố then chốt để bảo vệ sức khỏe mẹ và bé, dù nhu cầu tư vấn thực tế vẫn chưa được đáp ứng đầy đủ. Do đó, nghiên cứu này nhằm xác định tỷ lệ kiến thức đúng và các yếu tố liên quan về ngừa thai sau sinh của sản phụ tại Bệnh viện Trường Đại học Tây Nguyên năm 2025. Nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện trên 153 sản phụ có con khỏe mạnh tại Khoa Phụ sản, Bệnh viện Trường Đại học Tây Nguyên từ tháng 3/2025 đến tháng 6/2025. 13,7% SP có kiến thức đạt về ngừa thai sau sinh; Qua phân tích hồi quy Logistic đơn biến cho thấy các yếu tố liên quan độc lập có ý nghĩa thống kê đến tỷ lệ kiến thức đạt về ngừa thai sau sinh của SP là tuổi; nơi sống, nghề nghiệp; và số con (p<0,05). Kiến thức về ngừa thai sau sinh của sản phụ còn thấp và có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa kiến thức với tuổi; nơi sống, nghề nghiệp; và số con.

Abstract:

Postpartum contraception is vital for maternal and child health, yet counseling remains insufficient to meet actual needs. This study aims to determine the prevalence of correct knowledge and its associated factors among postpartum women at Tay Nguyen University Hospital in 2025. A cross-sectional study was conducted on 153 postpartum women with healthy infants at the Obstetrics Department of Tay Nguyen University Hospital from March to June 2025. The survey revealed that 13.7% of postpartum women possessed correct knowledge regarding contraception. Univariate logistic regression analysis identified several independent factors significantly associated with adequate knowledge levels, including age, residence, occupation, and parity (p < 0.05). Postpartum contraceptive knowledge among mothers remains low, with statistically significant differences observed across age groups, residency, occupations, and parity (p < 0.05).


TỶ LỆ NHIỄM GIUN MÓC/MỎ Ở HỌC SINH TRƯỜNG TIỂU HỌC Y JUT, XÃ LIÊN SƠN LẮK, TỈNH ĐẮK LẮK NĂM 2025

PREVALENCE OF HOOKWORM INFECTION AMONG PUPILS AT Y JUT PRIMARY SCHOOL, LIEN SON LAK COMMUNE, DAK LAK PROVINCE IN 2025

Phan Hoàng Thái Bảo, Nguyễn Thị Minh Thương, Hoàng Thị Ánh Tuyết

Trang 126-133

Lượt tải: 0 Lượt xem: 0

DOI: 10.63947/bvtn.v2i8.18

Nhiễm giun móc/mỏ là bệnh giun truyền qua đất còn phổ biến ở trẻ em tại các vùng nông thôn và miền núi, ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển thể chất. Nghiên cứu này nhằm xác định tỷ lệ nhiễm giun móc/mỏ ở học sinh trường Tiểu học Y Jut, xã Liên Sơn Lắk, tỉnh Đắk Lắk năm 2025. Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 218 học sinh; mẫu phân được xét nghiệm bằng phương pháp soi phân trực tiếp và phương pháp Willis, kết hợp phỏng vấn bằng bảng câu hỏi để thu thập thông tin về đặc điểm nhân khẩu học và điều kiện gia đình. Kết quả cho thấy có 28/218 học sinh nhiễm giun móc/mỏ, chiếm tỷ lệ 12,84%. Tỷ lệ nhiễm ở học sinh nam cao hơn học sinh nữ (15,69% so với 10,34%). Tỷ lệ nhiễm theo khối lớp 3, 4 và 5 lần lượt là 10,94%, 11,54% và 15,79%, trong đó học sinh lớp 5 có tỷ lệ nhiễm cao nhất. Học sinh người Ê Đê ghi nhận tỷ lệ nhiễm cao nhất (44,44%). Tỷ lệ nhiễm cao hơn được ghi nhận ở nhóm học sinh có phụ huynh mù chữ (54,55%) và nhóm có phụ huynh làm nghề nông (15,24%). Kết quả cho thấy nhiễm giun móc/mỏ vẫn là vấn đề sức khỏe cộng đồng tại địa phương, cần tăng cường truyền thông giáo dục sức khỏe, cải thiện vệ sinh và duy trì tẩy giun định kỳ cho học sinh tiểu học.

Abstract:

Hookworm infection is a soil-transmitted helminthiasis that remains common
among children in rural and mountainous areas, adversely affecting health and physical
development. This study aimed to determine the prevalence of hookworm infection among
pupils at Y Jut Primary School, Lien Son Lak Commune, Lak District, Dak Lak Province, in 2025.
A cross-sectional study was conducted among 218 pupils. Stool samples were examined using direct smear and Willis flotation techniques, and demographic and household information was collected using structured questionnaires. Results showed that 28 pupils were infected with hookworm, yielding an overall prevalence of 12.84%. The infection rate was higher in males than in females (15.69% vs. 10.34%). The prevalence among pupils in grades 3, 4, and 5 was 10.94%, 11.54%, and 15.79%, respectively, with the highest rate observed in grade 5. Pupils of the Ê Đê ethnic group had the highest prevalence (44.44%). Higher infection rates were also observed among pupils whose parents were illiterate (54.55%) and among those whose parents were farmers (15.24%). These findings indicate that hookworm infection remains a public health concern in the study area, emphasizing the need for strengthened health education, improved sanitation, and regular deworming programs for primary school pupils.


ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CAN THIỆP ĐỐI VỚI CHẤT LƯỢNG VỆ SINH BỀ MẶT KHI SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH DẤU HUỲNH QUANG TẠI 02 KHOA ĐIỀU TRỊ CÁN BỘ CAO CẤP VÀ NỘI ĐIỀU TRỊ THEO YÊU CẦU BỆNH VIỆN THỐNG NHẤT

EVALUATION OF THE EFFECTIVENESS OF AN INTERVENTION ON SURFACE CLEANING QUALITY USING THE FLUORESCENT MARKER METHOD IN TWO DEPARTMENS – THE DEPARTMENT OF VIP AND THE DEPARTMENT OF INTERNAL MEDICINE (SERVICE SECTOR) AT THONG NHAT HOSPITAL

Lê Thị Hải Xuân, Nguyễn Thị Ngọc Ánh, Nguyễn Trần Quỳnh Như, Lê Đình Thanh

Trang 134-140

Lượt tải: 0 Lượt xem: 0

DOI: 10.63947/bvtn.v2i8.19

Mục tiêu nghiên cứu là sử dụng phương pháp đánh dấu huỳnh quang để đánh giá hiệu quả can thiệp nhằm nâng cao chất lượng vệ sinh môi trường bề mặt, đồng thời khảo sát mối liên quan giữa nhận thức quy trình của nhân viên vệ sinh và việc đảm bảo cung cấp đủ tải lau, hoá chất tại Bệnh viện Thống Nhất. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có can thiệp được thực hiện trên 446 vị trí bề mặt thường xuyên tiếp xúc tại khoa Nội Điều trị theo yêu cầu và khoa Điều trị Cán bộ cao cấp. Chất lượng vệ sinh được đánh giá bằng phương pháp đánh dấu huỳnh quang so sánh trước và sau khi thực hiện can thiệp tập huấn lại kiến thức và bổ sung dụng cụ vệ sinh (tải lau) cho nhân viên. Kết quả: Tỷ lệ bề mặt được làm sạch hoàn toàn tăng đáng kể từ 45,6% trước can thiệp lên 79,4% sau can thiệp. Các nhóm bề mặt sau can thiệp có tỷ lệ sạch dao động từ 63,8% đến 89,2%, cao hơn rõ rệt so với trước can thiệp (22,8% - 62,3%). Bên cạnh đó, tỷ lệ nhân viên nắm vững quy trình tăng từ 68% lên 82% và số lượng tải lau sử dụng trung bình cho một phòng tăng từ 2,42 lên 3,63 cái. Kết luận: Phương pháp đánh dấu huỳnh quang là công cụ khách quan, phản ánh thực chất chất lượng vệ sinh môi trường hơn so với quan sát trực quan. Kết quả khẳng định hiệu quả tích cực của việc tập huấn kiến thức và đảm bảo đủ phương tiện vệ sinh trong việc cải thiện chất lượng làm sạch bề mặt bệnh viện.

Abstract:

The objective of this study was to use the fluorescent marker method to evaluate the effectiveness of an intervention aimed at improving environmental surface cleaning quality, while also investigating the correlation between cleaning staff’s awareness of protocols and the adequate provision of cleaning supplies (wipes and chemicals) at Thong Nhat Hospital. Subjects and Methods: A cross-sectional descriptive study with intervention was conducted on 446 high-touch surface locations at the Department of Internal Medicine (Service sector) and the Department of VIP (Senior Officials Treatment). Hygiene quality was assessed using the fluorescent marker method, comparing results before and after interventions that included staff retraining on knowledge and the supplementation of cleaning tools (wipes). Results: The proportion of completely cleaned surfaces increased significantly from 45.6% pre-intervention to 79.4% post-intervention. Post-intervention cleanliness rates across surface groups ranged from 63.8% to 89.2%, significantly higher than the pre-intervention range (22.8% - 62.3%). Additionally, the percentage of staff mastering the protocols rose from 68% to 82%, and the average number of wipes used per room increased from 2.42 to 3.63. Conclusion: The fluorescent marker method serves as an objective tool that reflects the actual quality of environmental hygiene more accurately than visual observation. The findings confirm the positive impact of knowledge training and the provision of adequate cleaning supplies in improving hospital surface cleaning quality.


THEO DÕI SIX SIGMA VÀ CHỈ SỐ QGI TRONG ĐÁNH GIÁ VÀ THEO DÕI CHẤT LƯỢNG XÉT NGHIỆM TRÊN MỘT SỐ XÉT NGHỆM SINH HÓA TRÊN HỆ THỐNG MÁY AU5800

SUMMARY MONITORING SIX SIGMA AND QGI IN THE EVALUATION AND FOLLOW-UP OF QUALITY FOR SELECTED BIOCHEMICAL TESTS ON THE AU5800 ANALYZER SYSTEM

Nguyễn Thị Thanh Phương, Đỗ Thị Thanh Đông, Hồ Thị Ngọc Hạnh, Nguyễn Trí Dũng, Vũ Thị Minh Hương

Trang 141-146

Lượt tải: 0 Lượt xem: 0

DOI: 10.63947/bvtn.v2i8.20

Ứng dụng Six Sigma và QGI để đánh giá, cải tiến chất lượng 10 xét nghiệm sinh hóa thường quy (glucose, ure, creatinin, acid uric, ALT, GGT, calci, magie, iron, CK) trên máy AU5800 tại Khoa Hóa sinh Bệnh viện Thống Nhất. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu sử dụng dữ liệu kiểm soát chất lượng nội bộ (IQC) trên máy AU5800 tại hai mức kiểm tra (mức 2 và 3) trong hai giai đoạn. Các thông số như độ chệch (Bias), hệ số biến thiên (CV%)  và chỉ số Six Sigma được tính toán dựa trên tổng sai số cho phép (TEa), kết hợp với phân tích chỉ số mục tiêu chất lượng QGI. Kết quả: Giai đoạn 1 có 6/10 xét nghiệm có sigma ≥ 4, có ure và creatinin có sigma = 2 và chỉ số QGI thấp. Chỉ số sigma của ure và creatinin ở giai đoạn 2 được nâng cao với sigma ≥ 3. Kết luận:  Six sigma kết hợp QGI giúp phát hiện sai số sớm, cải thiện hiệu quả ure và creatinin, chứng minh tính ưu việt trong quản lý chất lượng xét nghiệm sinh hóa bền vững trên máy AU5800.

Abstract:

To apply Six Sigma and Quality Goal Index (QGI) for evaluating and improving the quality of 10 routine biochemical tests (glucose, urea, creatinine, uric acid, ALT, GGT, calcium, magnesium, iron, CK) on the AU5800 analyzer at the Biochemistry Department, Thong Nhat Hospital. Subject and methods: he study utilized internal quality control (IQC) data from the AU5800 system at two control levels (Level 2 and Level 3) across two phases. Parameters such as bias, coefficient of variation (CV%), and Six Sigma metrics were calculated based on total allowable error (TEa), combined with analysis of the Quality Goal Index (QGI). Results: In Phase 1, 6/10 tests achieved a Sigma ≥4, while Urea and Creatinine had a Sigma of 2 with low QGI. In Phase 2, Sigma values for Urea and Creatinine improved to ≥ 3. Conclusion: The combination of Six Sigma and QGI enables early detection of errors, effective targeted improvement — especially for urea and creatinine — and demonstrates superior value and sustainability in the quality management of biochemical tests on the AU5800 analyzer.

Báo cáo ca lâm sàng

ỨNG DỤNG KỸ THUẬT WALANT TRONG PHẪU THUẬT CHI TRÊN TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA VŨNG TÀU

APPLICATION OF WALANT TECHNIQUE IN UPPER EXTREMITY SURGERY AT VUNG TAU GENERAL HOSPITAL: A CASE SERIES REPORT

Trần Tuấn Kiệt, Hà Ngọc Phúc, Đỗ Minh Đức, Lương Văn Anh, Nguyễn Thị Kim Thu

Trang 65-68

Lượt tải: 0 Lượt xem: 0

DOI: 10.63947/bvtn.v2i8.9

Trong phẫu thuật chấn thương chỉnh hình thường phụ thuộc vào gây mê toàn thân hoặc gây tê vùng kết hợp với garô để kiểm soát chảy máu. Tuy nhiên, việc sử dụng garô gây đau tức khó chịu và gây mê tiềm ẩn rủi ro toàn thân. Kỹ thuật WALANT sử dụng dung dịch Lidocaine và Epinephrine để vừa giảm đau vừa cầm máu, cho phép phẫu thuật viên thao tác mà không cần garô và bệnh nhân có thể vận động chủ động trong mổ. Mục tiêu nghiên cứu đánh giá tính an toàn, hiệu quả và khả năng áp dụng kỹ thuật WALANT trong phẫu thuật chi trên tại Bệnh viện Đa khoa Vũng Tàu. Báo cáo loạt ca lâm sàng gồm 4 bệnh nhân có tổn thương chi trên được phẫu thuật bằng kỹ thuật WALANT từ tháng 09/2025 đến 04/2026. Cả 4 trường hợp đều được phẫu thuật thành công. Lượng máu mất không đáng kể, phẫu trường rõ nét. Bệnh nhân không đau trong mổ (VAS < 2), không có cảm giác khó chịu do garô và thực hiện được vận động chủ động để kiểm tra kết quả phẫu thuật ngay trên bàn mổ. Không ghi nhận biến chứng hoại tử ngón hay ngộ độc thuốc tê. Bệnh nhân xuất viện trong thời gian <03 ngày. Kỹ thuật WALANT là một lựa chọn an toàn, hiệu quả và kinh tế cho phẫu thuật chi trên tại Bệnh viện Đa khoa Vũng Tàu. Kỹ thuật này giúp kiểm tra vận động chủ động trong mổ, loại bỏ rủi ro của gây mê và giảm tải cho hệ thống phòng mổ.

Abstract:

Traditional upper extremity surgery relies on tourniquets and sedation/general anesthesia. WALANT utilizes a mixture of lidocaine and epinephrine to achieve hemostasis and anesthesia without a tourniquet, allowing intraoperative active movement examination. Objective is to evaluate the safety and efficacy of WALANT in upper extremity surgery at Vung Tau General Hospital. A report of 4 clinical cases treated with WALANT. All surgeries were successful with minimal blood loss and excellent visualization. Patients reported minimal pain, no tourniquet discomfort, and successfully performed intraoperative active movements to verify surgical repairs. No complications such as necrosis or toxicity occurred. WALANT is a safe, effective, and cost-efficient approach, enabling intraoperative functional assessment and facilitating early discharge