Tạp chí Sức khỏe và Lão hóa là tạp chí chính thức của Bệnh viện Thống Nhất nhằm giới thiệu, cập nhật kiến thức về chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ người cao tuổi, xuất bản 4 số/năm (Tiếng Việt) và 1 số/năm (Tiếng Anh). Tạp chí đăng tải các bài viết giới thiệu, công bố kết quả nghiên cứu khoa học, trao đổi kinh nghiệm khám chữa bệnh, thành tựu và tiến bộ mới trong lĩnh vực Khoa học sức khoẻ và lão hóa.

Tôn chỉ hoạt động

- Thông tin về các hoạt động khoa học của Bệnh viện Thống Nhất
- Định kỳ theo kỳ hạn xuất bản (đối với tạp chí in), định kỳ cập nhật thông tin theo quy định của pháp luật (đối với tạp chí điện tử) để giới thiệu, công bố kết quả nghiên cứu khoa học, trao đổi kinh nghiệm khám chữa bệnh của Bệnh viện Thống Nhất.

Thông tin tạp chí

  • Giấy phép xuất bản: 17/GP-BVHTTDL cấp ngày 15/04/2025 của Bộ Văn hóa, Thể Thao và Du lịch
  • p-ISSN: 3093-3080; e-ISSN: 3093-3099
  • Tần suất xuất bản: 4 số/năm (Tiếng Việt) và 1 số/năm (Tiếng Anh)
  • DOI prefix: 10.63947
  • Công cụ chống đạo văn áp dụng: Ithenticate. Các bài báo có tỉ lệ đạo văn lớn hơn 25% sẽ không được xem xét đánh giá.
  • Trang chủ tạp chí: https://tcsuckhoelaohoa.vn/
  • Trang chủ bệnh viện: https://bvtn.org.vn

Quy trình phản biện

Các bản thảo nào thuộc phạm vi xuất bản và đáp ứng được các yêu cầu của thể lệ viết bài sẽ được chuyển cho các thành viên ban biên tập phụ trách. Các bản thảo sau đó sẽ trải qua quá trình phản biện kín hai chiều bởi ít nhất 02 (hai) chuyên gia độc lập trong lĩnh vực tương ứng. Thành viên ban biên tập phụ trách sẽ đưa ra quyết định trước khi được phê duyệt của Tổng biên tập.

Cam kết bảo mật

Tạp chí Sức khỏe và Lão hóa cam kết thực hiện và tuân thủ các quy định của luật và các văn bản hướng dẫn liên quan đến bảo mật thông tin cá nhân. Các thông tin mà người dùng nhập vào các biểu mẫu trên Hệ thống Quản lý xuất bản trực tuyến của Tạp chí chỉ được sử dụng vào các mục đích thuộc phạm vi xuất bản của tạp chí và sẽ không được cung cấp cho bất kỳ bên thứ ba nào khác, hay dùng vào bất kỳ mục đích nào khác.

Đạo đức nghiên cứu

Tạp chí Sức khỏe và Lão hóa cam kết duy trì các tiêu chuẩn cao nhất về đạo đức xuất bản và tính liêm chính trong học thuật. Chính sách này dựa trên hướng dẫn của Ủy ban về Đạo đức Xuất bản (COPE) và các thông lệ tốt nhất trong xuất bản học thuật. Tạp chí xuất bản các nghiên cứu được bình duyệt trong lĩnh vực sức khỏe, lão hóa và các ngành liên quan, đồng thời cam kết tính minh bạch, công bằng và nghiêm ngặt trong mọi khía cạnh của quy trình xuất bản. Tạp chí Sức khỏe và Lão hóa tuân theo các nguyên tắc của truy cập mở (Open Access), với mục tiêu làm cho các kết quả nghiên cứu khoa học được phổ biến rộng rãi và miễn phí tới cộng đồng toàn cầu.

Thông báo
📅 2026-07-19

Thư Mời Đăng Bài - Số 9 năm 2026

Tạp chí Sức khỏe và Lão hóa (Bệnh viện Thống Nhất) trân trọng kính mời Quý Thầy/Cô và các Nhà khoa học gửi bài nghiên cứu, tổng quan, ca lâm sàng cho số 9 năm 2026 (Tiếng Việt).


Thông báo
📅 2026-05-01

Bộ KH&CN công nhận 2 tập san của Tạp chí Sức khỏe và Lão hóa đạt chuẩn năm 2026

Bộ Khoa học và Công nghệ vừa công bố Danh mục tạp chí đạt tiêu chuẩn khoa học Việt Nam năm 2026. Đáng chú ý, tất cả các ấn phẩm khoa học thuộc hệ thống của Tạp chí Sức khỏe và Lão hóa (Bệnh viện Thống Nhất) đều được ghi nhận đạt chuẩn.


Tập 2 Số 9 (2026): Bước tiến trong điều trị chuyên sâu: Dấu ấn từ ca ghép gan đầu tiên tại Bệnh viện Thống Nhất

Đã Xuất bản: 01-10-2026

Báo cáo tổng quan

CAN THIỆP NGOẠI KHOA TRONG LOÃNG XƯƠNG: THEO DÕI, QUẢN LÝ BỆNH NHÂN GÃY XƯƠNG VÀ MÔ HÌNH FRACTURE LIAISON SERVICE (FLS)

Surgical Intervention in Osteoporosis: Follow-up, Management of Fracture Patients, and the Fracture Liaison Service (FLS) Model

Võ Thành Toàn

Trang 11-21

Lượt tải: 22 Lượt xem: 47

DOI: 10.63947/bvtn.v2i9.2

Gãy xương do loãng xương ở người cao tuổi hiện nay là một vấn đề lâm sàng đặc biệt phức tạp, đặt ra thách thức lớn và đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ mang tính đa chuyên khoa giữa ngoại khoa chấn thương chỉnh hình, lão khoa và nội tiết xương khớp. Các bằng chứng y học cho thấy, ngay sau khi xảy ra lần gãy xương đầu tiên do loãng xương, nguy cơ tái phát các biến cố gãy xương tiếp theo tăng lên rất cao, đặc biệt là trong khoảng thời gian từ 1 đến 2 năm đầu. Mặc dù hậu quả vô cùng nghiêm trọng, phần lớn bệnh nhân trên thực tế hiện nay vẫn chưa được đánh giá đúng mức và chưa được tiếp cận các liệu pháp điều trị loãng xương một cách đầy đủ và kịp thời. Bài tổng quan này được thực hiện nhằm mục đích cập nhật một cách hệ thống các nguyên tắc cốt lõi trong can thiệp ngoại khoa đối với gãy xương do loãng xương, quy trình quản lý toàn diện trong giai đoạn chu phẫu, và đặc biệt là phân tích sâu sắc vai trò chiến lược của mô hình dịch vụ liên kết gãy xương Fracture Liaison Service (FLS). FLS đã được chứng minh lâm sàng là một mô hình điều trị phối hợp có hệ thống mang lại hiệu quả vượt trội, giúp tối ưu hóa toàn bộ quy trình quản lý bệnh nhân, nâng cao đáng kể tỷ lệ tuân thủ điều trị lâu dài, ngăn ngừa chủ động nguy cơ gãy xương thứ phát, giảm tỷ lệ tử vong liên quan và tiết kiệm nguồn chi phí y tế cho xã hội. Việc triển khai nhân rộng mô hình FLS là giải pháp mang tính thiết yếu để nâng cao chất lượng chăm sóc toàn diện, liên tục cho bệnh nhân loãng xương tại Việt Nam.

Abstract:

Osteoporotic fractures in older adults represent a highly complex clinical challenge, requiring systematic and multidisciplinary coordination among orthopedic surgery, geriatrics, and metabolic bone specialists. Clinical evidence indicates that immediately following an initial fragility fracture, the risk of sustaining subsequent fractures escalates dramatically, particularly within the critical window of the first 1 to 2 years. Despite these severe consequences, a vast majority of patients in current practice remain significantly under-evaluated and undertreated for their underlying osteoporosis. This comprehensive review aims to systematically update the core principles of surgical intervention for osteoporotic fractures, effective perioperative management protocols, and specifically highlight the strategic implementation of the Fracture Liaison Service (FLS) model. FLS has been clinically proven as an exceptionally effective, structured, and coordinated care model that optimizes the entire patient management pathway, significantly enhances long-term treatment adherence, actively prevents secondary fragility fractures, reduces associated mortality rates, and lowers overall healthcare costs. Widespread adoption and expansion of the FLS framework serve as an essential and vital solution to establishing a standardized system for continuous, comprehensive, and high-quality care for osteoporotic patients throughout Vietnam.


Vai trò của ghi hình cắt lớp phát xạ positron (PET) amyloid trong chẩn đoán sớm và điều trị bệnh Alzheimer: Tổng quan tài liệu

Role of amyloid positron emission tomography (PET) imaging in early diagnosis and treatment of Alzheimer’s disease: a literature review

Trương Diệp Vân Anh

Trang 22-32

Lượt tải: 21 Lượt xem: 40

DOI: 10.63947/bvtn.v2i9.3

Bệnh Alzheimer (AD) đang trở thành gánh nặng y tế toàn cầu, đòi hỏi sự chuyển dịch mô hình chẩn đoán từ các tiêu chuẩn lâm sàng truyền thống sang các dấu ấn sinh học theo hệ thống phân loại ATN. Bài tổng quan này nhằm tổng hợp các bằng chứng khoa học về vai trò của ghi hình cắt lớp phát xạ positron (PET) amyloid trong chẩn đoán sớm và quản lý bệnh AD. PET-amyloid cho phép định lượng sự lắng đọng mảng bám amyloid-beta (Aβ) trong não người sống — một tiến trình sinh học bắt đầu từ 15-20 năm trước khi khởi phát triệu chứng. Bài viết điểm lại sự phát triển từ hợp chất thế hệ đầu 11C-PiB đến các dược chất gắn 18F (Florbetapir, Flutemetamol, Florbetaben) giúp kỹ thuật này trở nên khả thi trong thực hành lâm sàng. Đặc biệt, PET-amyloid đóng vai trò là “tiêu chuẩn vàng” không thể thay thế trong việc lựa chọn bệnh nhân và theo dõi hiệu quả làm sạch mảng bám của các liệu pháp điều trị miễn dịch mới như Lecanemab và Donanemab. Cuối cùng, bài báo thảo luận về những thách thức tại Việt Nam và đề xuất mô hình phối hợp đa phương thức, sử dụng dấu ấn sinh học trong máu để sàng lọc trước khi xác chẩn bằng PET-amyloid, nhằm tối ưu hóa chi phí và nâng cao hiệu quả chẩn đoán trong điều kiện thực tiễn trong nước.

Abstract:

Alzheimer’s disease (AD) is becoming a global health burden, necessitating a shift in diagnostic models from traditional clinical criteria to biomarkers based on the ATN classification system. This review aims to synthesize scientific evidence regarding the role of amyloid positron emission tomography (PET) in the early diagnosis and management of AD. Amyloid-PET enables the quantification of amyloid-beta (Aβ) plaque deposition in the living brain — a biological process that begins 15-20 years before symptom onset. The article reviews the development from the first-generation compound 11C-PiB to 18F-labeled radiotracers (Florbetapir, Flutemetamol, Florbetaben), which have made this technique feasible in routine clinical practice. Notably, amyloid-PET serves as an indispensable “gold standard” for patient selection and monitoring the plaque-clearing efficacy of novel immunotherapies such as Lecanemab and Donanemab. Finally, the paper discusses challenges in Vietnam and proposes a multimodal coordination model, utilizing blood-based biomarkers for screening followed by amyloid-PET for confirmation, to optimize costs and enhance diagnostic efficiency within the local context.


TỔNG QUAN HỆ THỐNG VỀ HIỆU LỰC/HIỆU QUẢ VÀ TÍNH AN TOÀN CỦA PHỐI HỢP FENOFIBRATE–STATIN TRONG ĐIỀU TRỊ RỐI LOẠN LIPID MÁU

SYSTEMATIC REVIEW OF THE EFFICACY/EFFECTIVENESS AND SAFETY OF FENOFIBRATE–STATIN COMBINATION THERAPY IN THE TREATMENT OF DYSLIPIDEMIA

Phạm Ngọc Viễn Linh, Lê Thị Mai Sương, Nguyễn Mỹ Anh Thư, Lê Trần Việt An, Trần Ngọc Thiên Phú, Đặng Thị Kiều Nga, Phạm Đình Luyến

Trang 33-41

Lượt tải: 22 Lượt xem: 49

DOI: 10.63947/bvtn.v2i9.4

Rối loạn lipid máu (RLLM) là yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch do xơ vữa động mạch. Ở người bệnh còn tăng triglycerid hoặc RLLM hỗn hợp dù đã điều trị statin, phối hợp fenofibrate–statin, gồm phối hợp liều cố định (FDC) fenofibrate/pravastatin 160/40 mg, có thể được cân nhắc để cải thiện kiểm soát lipid ngoài LDL-C. Tổng quan hệ thống thực hiện theo hướng dẫn Cochrane và PRISMA 2020, nhằm đánh giá hiệu lực/hiệu quả và an toàn của phối hợp fenofibrate–statin trong điều trị RLLM; tài liệu tìm kiếm trên PubMed và Ovid EMBASE đến tháng 07/2026. Từ 3.660 bản ghi sàng lọc và 203 bài đánh giá toàn văn, 10 nghiên cứu (3 RCT, 7 nghiên cứu không ngẫu nhiên) được đưa vào. FDC fenofibrate/pravastatin giảm thêm non-HDL-C 12,9–16,3% và triglycerid 22,6–31,6%, tăng tỷ lệ đạt mục tiêu lipid kép so với statin đơn trị, hiệu quả duy trì đến 3 năm trong nghiên cứu POSE. Các đoàn hệ quy mô lớn ghi nhận phối hợp liên quan giảm 9,9–20,0% nguy cơ một số biến cố tim mạch và 27,0–28,4% nguy cơ tử vong do mọi nguyên nhân ở người đái tháo đường típ 2. Phối hợp dung nạp tốt, không ghi nhận bệnh cơ hay tiêu cơ vân trong các RCT, dù một số nghiên cứu quan sát ghi nhận tín hiệu tăng nguy cơ tổn thương thận cấp, viêm cơ hoặc tổn thương gan, cần theo dõi trong điều trị.

Abstract:

Dyslipidemia is a major risk factor for atherosclerotic cardiovascular disease. In patients with persistent hypertriglyceridemia or mixed dyslipidemia despite statin therapy, fenofibrate–statin combination therapy, including the fixed-dose combination (FDC) of fenofibrate/pravastatin 160/40 mg, may be considered to further improve control of non-LDL-C lipid parameters. This systematic review was conducted according to Cochrane guidance and the PRISMA 2020 checklist to evaluate the efficacy/effectiveness and safety of fenofibrate–statin combination therapy in dyslipidemia treatment. Literature was searched in PubMed and Ovid EMBASE up to July 2026; risk of bias was assessed using RoB 2 for randomized controlled trials and ROBINS-I for non-randomized studies. From 3,660 screened records and 203 full-text assessments, 10 studies (3 RCTs and 7 non-randomized studies) were included. FDC fenofibrate/pravastatin further reduced non-HDL-C by 12.9–16.3% and triglycerides by 22.6–31.6%, and increased dual lipid target attainment versus statin monotherapy, with effects sustained over 3 years in the POSE study. Large cohort studies reported that fenofibrate–statin combinations were associated with a 9.9–20.0% reduction in selected cardiovascular events and a 27.0–28.4% reduction in all-cause mortality among patients with type 2 diabetes. The combination was generally well tolerated, with no myopathy or rhabdomyolysis reported in RCTs, although some observational studies signaled increased risks of acute kidney injury, myositis, or liver injury requiring monitoring during treatment.

Nghiên cứu gốc

KHẢO SÁT ĐÁNH GIÁ MÔ HÌNH CÂU LẠC BỘ SUY TIM KHOA NỘI TIM MẠCH BỆNH VIỆN THỐNG NHẤT

EVALUATION OF THE HEART FAILURE CLUB MODEL AT THE CARDIOLOGY DEPARTMENT OF THONG NHAT HOSPITAL

Trần Thiện Đức, Nguyễn Văn Bé Hai, Vạn Việt Trường

Trang 42-47

Lượt tải: 21 Lượt xem: 39

DOI: 10.63947/bvtn.v2i9.5

Mô hình câu lạc bộ suy tim được xem là lựa chọn phù hợp trong giáo dục kiến thức và hỗ trợ tâm lý xã hội cho bệnh nhân trong bối cảnh thiếu nhân lực chuyên sâu. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm: (1) Đánh giá kiến thức, hành vi tự chăm sóc, lợi ích tâm lý – xã hội và mức độ hài lòng của bệnh nhân đối với mô hình Câu lạc bộ (CLB) suy tim; (2) Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến sự tham gia đầy đủ trong hoạt động của câu lạc bộ. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên bệnh nhân tham gia sinh hoạt CLB Suy tim tại Khoa Nội Tim mạch, Bệnh viện Thống Nhất. Bệnh nhân thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu tự điền (có hỗ trợ của nhân viên y tế) bộ câu hỏi cấu trúc gồm 20 câu Có/Không ngay sau một buổi sinh hoạt. 154 bệnh nhân được khảo sát (87,7% nữ; tuổi trung bình 66,4 ±8,4, khoảng tuổi 22-83). Hầu hết bệnh nhân ghi nhận hiểu rõ hơn về suy tim (96,8%), tầm quan trọng của việc dùng thuốc đều đặn (98,7%) và chế độ ăn nhạt (98,7%); 83,8% hiểu các dấu hiệu cảnh báo suy tim nặng lên. Hành vi tự chăm sóc cải thiện ở đa số: dùng thuốc đúng hơn (97,4%), tuân thủ chế độ ăn tốt hơn (97,4%), tự theo dõi cân nặng/triệu chứng hằng ngày tốt hơn (94,8%), chủ động tái khám đúng hẹn hơn (95,5%) và tự tin hơn trong tự chăm sóc (91,6%). Nhóm tham dự đầy đủ/hầu hết buổi sinh hoạt có điểm kiến thức/tự chăm sóc/hài lòng cao hơn có ý nghĩa (15,5/16 so với 13,8/16; p = 0,039); việc biết trước chủ đề sinh hoạt và thời gian sinh hoạt phù hợp đều liên quan chặt với tỷ lệ tham dự đầy đủ (p < 0,001 và p = 0,004). Bệnh nhân tham gia CLB Suy tim Khoa Nội Tim mạch Bệnh viện Thống Nhất ghi nhận mức độ kiến thức, hành vi tự chăm sóc, lợi ích tâm lý và sự hài lòng cao. Sự tham dự đều đặn liên quan đến lợi ích cảm nhận tốt hơn, gợi ý rằng thông báo trước chủ đề và sắp xếp thời gian sinh hoạt thuận tiện là những biện pháp đơn giản, khả thi để tăng cường hiệu quả của mô hình.

Abstract:

The heart failure club model is considered an appropriate approach for providing patient education and psychosocial support in settings with limited specialized healthcare personnel. This study was conducted with the following objectives: (1) to evaluate patients’ knowledge, self-care behaviors, psychosocial benefits, and satisfaction with the Heart Failure Club model; and (2) to investigate factors associated with regular participation of the club’s activities A cross-sectional descriptive study among patients attending the Heart Failure Club at the Cardiology Department, Thong Nhat Hospital. Eligible patients completed a staff-assisted, structured 20-item Yes/No questionnaire immediately after a club session. 154 patients were surveyed (87.7% female; mean age 66.4 ±8.4 years, range 22-83). Most patients reported better understanding of heart failure (96.8%), the importance of regular medication (98.7%), and a low-salt diet (98.7%); 83.8% understood warning signs of decompensation. Self-care behavior improved in most patients: correct medication-taking (97.4%), dietary adherence (97.4%), daily self-monitoring (94.8%), proactive follow-up (95.5%), self-care confidence (91.6%). Psychosocial benefit and satisfaction were high (97.4-100%). Full/consistent attendance was linked to higher knowledge/self-care/satisfaction scores (15.5/16 vs 13.8/16, p = 0.039); prior topic awareness and convenient timing were both strongly associated with attendance (p < 0.001; p = 0.004). Patients attending the Thong Nhat Hospital Heart Failure Club reported high knowledge, self-care, psychosocial benefit, and satisfaction. Consistent attendance was associated with greater perceived benefit; advance notice of topics and convenient scheduling are simple, feasible levers to further strengthen the programme.


Đánh giá sự khác nhau theo giới tính các thành tố trong thang điểm GDS-15 đánh giá trầm cảm ở người bệnh cao tuổi nội trú có suy tim tại Bệnh viện Thống Nhất

Sex Differences in Components of the GDS-15 Depression Scale among Hospitalised Older Patients with Heart Failure at Thong Nhat Hospital

Hoàng Thị Tuyết, Lê Anh Đào, Huỳnh Thanh Đào, Ninh Hoàng Phong

Trang 48-54

Lượt tải: 19 Lượt xem: 38

DOI: 10.63947/bvtn.v2i9.6

Trầm cảm thường gặp ở bệnh nhân suy tim cao tuổi nội trú và có thể biểu hiện khác nhau theo giới tính. Mô tả đặc điểm dịch tễ, bệnh đồng mắc, đặc điểm lão khoa và so sánh sự khác nhau theo giới tính của các thành tố thang điểm GDS-15 ở bệnh nhân cao tuổi nội trú có suy tim tại Bệnh viện Thống Nhất. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 137 bệnh nhân ≥60 tuổi nội trú có suy tim tại Khoa Nội Tim mạch, Bệnh viện Thống Nhất (64 nam, 73 nữ). Biến định tính trình bày tần số, tỷ lệ %; biến định lượng phân phối không chuẩn dùng trung vị, khoảng tứ phân vị. So sánh nam-nữ bằng chi bình phương/Fisher hoặc Mann-Whitney; trầm cảm xác định khi GDS-15 ≥5 điểm. BMI trung vị 22 (21-24) kg/m². Tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, đái tháo đường là bệnh đồng mắc thường gặp nhất. Phụ thuộc IADL 85,4%, suy yếu 86,8%, trầm cảm theo GDS-15 81,8%; GDS-15 trung vị 6 (5-7). Không khác biệt ý nghĩa theo giới ở bệnh đồng mắc, phân suất tống máu thất trái (EF), ADL/IADL, suy yếu, trầm cảm hay từng thành tố GDS-15. Sáu thành tố GDS-15 có tỷ lệ trả lời “có” cao nhất theo giới là cảm thấy trí nhớ kém đi, cảm thấy khỏe mạnh/nhiều sinh lực và thích ở nhà hơn ra ngoài. Tỷ lệ trầm cảm theo GDS-15 ở mức cao; nữ có tỷ lệ cao hơn nam về mặt số học nhưng chưa đạt ý nghĩa thống kê. Sàng lọc trầm cảm bằng GDS-15 nên được tích hợp thường quy vào chăm sóc điều dưỡng, không phân biệt giới tính.

Abstract:

Depression is common among older inpatients with heart failure and may present differently by sex. To describe demographic, comorbidity and geriatric characteristics, and to compare sex differences in components of the 15-item Geriatric Depression Scale (GDS-15) among hospitalised older patients with heart failure at Thong Nhat Hospital. A cross-sectional study of 137 inpatients aged ≥60 years with heart failure at the Department of Cardiology, Thong Nhat Hospital (64 men, 73 women). Categorical variables were presented as frequency and percentage; skewed continuous variables as median and interquartile range. Comparisons between men and women used chi-square/Fisher’s exact or Mann-Whitney tests; depression was defined as GDS-15 ≥5. Median BMI was 22 (IQR 21-24) kg/m². Hypertension, dyslipidaemia and diabetes were the most common comorbidities. IADL dependence occurred in 85.4%, frailty in 86.8%, and GDS-15 depression in 81.8%; median GDS-15 score was 6 (IQR 5-7). No statistically significant sex differences were found in comorbidities, ejection fraction, ADL/IADL dependence, frailty, depression, or any GDS-15 component. The six GDS-15 items with the highest “yes” rates by sex were memory complaints, feeling full of energy, and preferring to stay home. Depression screened by GDS-15 was highly prevalent; women had a numerically higher rate than men without reaching statistical significance. Routine GDS-15 depression screening should be integrated into nursing care regardless of sex.


KHẢO SÁT TỶ LỆ KIỂM SOÁT ĐƯỜNG HUYẾT Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÍP 2 CAO TUỔI CÓ SUY YẾU

ASSESSMENT OF GLYCEMIC CONTROL IN FRAIL OLDER ADULTS WITH TYPE 2 DIABETES MELLITUS

Nguyễn Thanh Vy, Nguyễn Đặng Ngọc Trinh, Lê Hữu Phần, Nguyễn Thị Mây Hồng, Phạm Hòa Bình

Trang 55-60

Lượt tải: 19 Lượt xem: 36

DOI: 10.63947/bvtn.v2i9.7

Đái tháo đường ở người cao tuổi ngày càng gia tăng và việc kiểm soát đường huyết còn nhiều thách thức. Theo khuyến cáo ADA 2025, mục tiêu HbA1c cần được cá thể hóa dựa trên mức độ suy yếu, chức năng – nhận thức, kỳ vọng sống, bệnh đồng mắc và biến chứng mạch máu. Nghiên cứu nhằm khảo sát tỷ lệ đạt mục tiêu kiểm soát đường huyết và mối liên quan giữa các yếu tố lão khoa với hiệu quả điều trị ở bệnh nhân cao tuổi mắc đái tháo đường típ 2. Nghiên cứu cắt ngang mô tả được thực hiện từ tháng 4/2025 đến tháng 8/2025 tại Phòng khám Nội tiết, Bệnh viện Thống Nhất, Thành phố Hồ Chí Minh. Trong 185 bệnh nhân, tuổi trung vị là 68 (64–75,5) tuổi và 45,4% đạt mục tiêu HbA1c. Hồi quy logistic đa biến cho thấy tình trạng suy yếu và nguy cơ tim mạch cao liên quan độc lập với khả năng đạt mục tiêu HbA1c, với OR = 0,48 (KTC 95%: 0,25–0,92; p = 0,027) và OR = 0,57 (KTC 95%: 0,32–0,99; p = 0,047). Đa bệnh và đa thuốc không liên quan có ý nghĩa thống kê với khả năng đạt mục tiêu HbA1c. Tỷ lệ bệnh nhân đạt mục tiêu HbA1c còn hạn chế. Tình trạng suy yếu và nguy cơ tim mạch cao liên quan độc lập đến khả năng đạt mục tiêu điều trị.

Abstract:

Diabetes mellitus is increasingly prevalent among older adults, and glycemic control remains challenging. According to the 2025 American Diabetes Association (ADA) recommendations, HbA1c targets should be individualized based on frailty, functional and cognitive status, life expectancy, comorbidities, and vascular complications. This study aimed to determine the proportion of older patients achieving glycemic control targets and to examine the associations between geriatric factors and treatment effectiveness in patients with type 2 diabetes mellitus. A descriptive cross-sectional study was conducted from April to August 2025 at the Endocrinology Outpatient Clinic, Thong Nhat Hospital, Ho Chi Minh City. Among 185 patients, the median age was 68 years (64–75.5), and 45.4% achieved their HbA1c target. Multivariable logistic regression showed that frailty and high cardiovascular risk were independently associated with the likelihood of achieving the HbA1c target, with OR = 0.48 (95% CI: 0.25–0.92; p = 0.027) and OR = 0.57 (95% CI: 0.32–0.99; p = 0.047), respectively. Multimorbidity and polypharmacy were not significantly associated with achieving the HbA1c target. The proportion of patients achieving their HbA1c target remained limited. Frailty and high cardiovascular risk were independently associated with the likelihood of achieving treatment targets.


TỈ LỆ VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA HỘI CHỨNG SUY MÒN PROTEIN NĂNG LƯỢNG TRÊN BỆNH NHÂN BỆNH THẬN MẠN LỌC MÁU CHU KỲ

Prevalence and associated factors of protein-energy wasting syndrome in chronic kidney disease patients on maintenance hemodialysis

Nguyễn Cảnh Hiền, Nguyễn Hoàng Phú, Ngô Văn Truyền, Phan Hữu Hên

Trang 61-66

Lượt tải: 20 Lượt xem: 38

DOI: 10.63947/bvtn.v2i9.8

Xác định tỉ lệ và phân tích các yếu tố liên quan của hội chứng suy mòn protein năng lượng (PEW) trên bệnh nhân bệnh thận mạn lọc máu chu kỳ. Nghiên cứu mô tả cắt ngang. Địa điểm và thời gian nghiên cứu: Khoa Nội Thận, Bệnh viện đa khoa Ninh Thuận từ tháng 06/2025 đến tháng 06/2026. Đối tượng nghiên cứu: 166 bệnh nhân (>18 tuổi) mắc bệnh thận mạn giai đoạn cuối đang lọc máu chu kỳ ổn định. Tỉ lệ bệnh nhân mắc hội chứng PEW là 24,1%. Các tiêu chí cấu thành thường gặp nhất là biểu hiện chán ăn rõ rệt (57,8%), giảm vòng cánh tay (36,7%) và giảm albumin huyết thanh (36,1%). Phân tích yếu tố liên quan cho thấy giới tính nam là yếu tố bảo vệ đối với PEW (OR = 0,167; p = 0,001), đồng nghĩa nữ giới có nguy cơ mắc bệnh cao hơn. Nồng độ hemoglobin ở nhóm mắc PEW thấp hơn so với nhóm không mắc (8,2 so với 9,0 g/dL; p = 0,010). Tỉ lệ hội chứng PEW ở bệnh nhân lọc máu chu kỳ là 24,1%. Giới tính nữ và tình trạng thiếu máu là những yếu tố liên quan, đòi hỏi sự theo dõi và can thiệp dinh dưỡng sớm.

Abstract:

To determine the prevalence and analyze the associated factors of protein-energy wasting (PEW) syndrome in chronic kidney disease patients on maintenance hemodialysis. A cross-sectional descriptive study. Study location and duration: Department of Nephrology, Ninh Thuan General Hospital from June 2025 to June 2026. Study subjects: 166 patients (>18 years old) with end-stage renal disease undergoing stable maintenance hemodialysis. The prevalence of patients with PEW syndrome is 24.1%. The most common constituent criteria are prominent signs of anorexia (57.8%), decreased mid-arm circumference (36.7%), and decreased serum albumin (36.1%). Associated factor analysis shows that male gender is a protective factor against PEW (OR = 0.167; p = 0.001), meaning females have a higher risk of the disease. The hemoglobin concentration in the PEW group is lower than that of the non-PEW group (8.2 compared to 9.0 g/dL; p = 0.010). The prevalence of PEW syndrome in maintenance hemodialysis patients is 24.1%. Female gender and anemia are associated factors, which require early monitoring and nutritional intervention.


Giá trị của độ dày thành túi mật và tỷ số tiểu cầu trên độ dày thành túi mật trong tiên đoán giãn tĩnh mạch thực quản nguy cơ cao ở bệnh nhân xơ gan

Value of gallbladder wall thickness and the platelet count-to-gallbladder wall thickness ratio in predicting high-risk esophageal varices in patients with cirrhosis

Đỗ Thành Đông, Nguyễn Thị Trúc Ly, Phan Như Quỳnh, Nguyễn Văn Thuận, Trần Quốc Thắng

Trang 67-75

Lượt tải: 18 Lượt xem: 38

DOI: 10.63947/bvtn.v2i9.9

Giãn tĩnh mạch thực quản (TMTQ) là biến chứng nặng của xơ gan, với tỷ lệ tử vong 15–25% khi xuất huyết. Nội soi là tiêu chuẩn vàng nhưng xâm lấn và tốn kém. Nghiên cứu đánh giá mối tương quan giữa độ dày thành túi mật (ĐDTTM) với mức độ giãn TMTQ và giá trị tiên đoán của ĐDTTM cùng tỷ số tiểu cầu/ĐDTTM (SLTC/ĐDTTM). Nghiên cứu cắt ngang trên 72 bệnh nhân xơ gan ≥18 tuổi tại Bệnh viện Thống Nhất (12/2023–10/2024), siêu âm đo ĐDTTM, xét nghiệm tiểu cầu, nội soi; phân tích Spearman, ROC, điểm cắt Youden. Tuổi trung bình 61,1 ± 12 năm; nam 70,8%. Tỷ lệ giãn TMTQ và giãn TMTQ nguy cơ cao lần lượt là 73,6% và 70,8%. ĐDTTM tương quan thuận mức độ trung bình với mức độ giãn TMTQ (r = 0,64; p < 0,001). AUC của ĐDTTM là 0,93 đối với giãn TMTQ (điểm cắt 5,12 mm; độ nhạy 73,6%; độ đặc hiệu 100%) và 0,90 đối với giãn TMTQ nguy cơ cao (độ nhạy 74,5%; độ đặc hiệu 95,2%). AUC tương ứng của SLTC/ĐDTTM là 0,74 và 0,72. ĐDTTM có giá trị tốt trong tiên đoán giãn TMTQ và cho AUC cao hơn SLTC/ĐDTTM, có tiềm năng hỗ trợ phân tầng nguy cơ và ưu tiên nội soi tại các cơ sở hạn chế phương tiện đánh giá chuyên sâu.

Abstract:

Esophageal varices (EV) are a serious complication of cirrhosis, with 15–25% mortality when bleeding occurs. Endoscopy is the diagnostic gold standard but is invasive and costly. This study evaluated the correlation between gallbladder wall thickness (GBWT) and EV severity and the predictive value of GBWT and the platelet count-to-GBWT ratio (PLT/GBWT). This cross-sectional study included 72 patients aged ≥18 years with cirrhosis at Thong Nhat Hospital from December 2023 to October 2024. GBWT was measured by ultrasonography and EV by upper gastrointestinal endoscopy. Spearman correlation, ROC analysis, and the Youden index were used. Mean age was 61.1 ± 12 years, and 70.8% were male. EV and high-risk EV were present in 73.6% and 70.8%, respectively. GBWT showed a moderate positive correlation with EV severity (r = 0.64; p < 0.001). The AUC for GBWT was 0.93 for EV (cutoff 5.12 mm; sensitivity 73.6%; specificity 100%) and 0.90 for high-risk EV (sensitivity 74.5%; specificity 95.2%). The corresponding AUCs for PLT/GBWT were 0.74 and 0.72. GBWT showed good predictive performance and higher AUCs than PLT/GBWT, suggesting potential utility for risk stratification and prioritization of endoscopy where advanced diagnostic resources are limited.


HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ HỖ TRỢ CỦA ĐIỆN CHÂM KẾT HỢP NHĨ CHÂM TRÊN THANG ĐIỂM GERDQ Ở BỆNH NHÂN TRÀO NGƯỢC DẠ DÀY THỰC QUẢN TẠI BỆNH VIỆN THỐNG NHẤT

ADJUNCTIVE EFFICACY OF ELECTROACUPUNCTURE COMBINED WITH AURICULAR ACUPUNCTURE ON THE GERDQ SCORE IN PATIENTS WITH GASTROESOPHAGEAL REFLUX DISEASE AT THONG NHAT HOSPITAL

Nguyễn Thị Quế Chi, Đoàn Văn Minh, Hoàng Thị Hồng Nhung, Trần Thanh Tuyến, Vũ Thị Ly Na

Trang 76-82

Lượt tải: 19 Lượt xem: 41

DOI: 10.63947/bvtn.v2i9.10

Điện châm kết hợp nhĩ châm được xem là liệu pháp bổ trợ tiềm năng bên cạnh PPI trong điều trị GERD. Một nghiên cứu can thiệp lâm sàng có nhóm chứng được tiến hành trên bệnh nhân GERD có điểm GerdQ ≥ 8, phân ngẫu nhiên vào nhóm can thiệp (điện châm kết hợp nhĩ châm phối hợp Esomeprazole 40 mg/ngày) và nhóm chứng (Esomeprazole đơn thuần), theo dõi tại các thời điểm trước điều trị (ngày 0), sau 7 ngày và sau 14 ngày điều trị, nhằm khảo sát đặc điểm lâm sàng nền và hiệu quả điều trị qua thang điểm GerdQ cùng điểm 4GerdQ (bốn câu hỏi tiên đoán dương trong bộ GerdQ). Có 61 bệnh nhân hoàn tất nghiên cứu (30 nhóm chứng, 31 nhóm can thiệp), đặc điểm nền tương đồng giữa hai nhóm (p>0,05). Trước điều trị, điểm GerdQ trung vị đạt 10,0 điểm ở cả hai nhóm (p=0,447); điểm 4GerdQ đều là 8,0 điểm ở cả hai nhóm (p=0,175). Sau 14 ngày, điểm GerdQ giảm có ý nghĩa trong mỗi nhóm (p<0,001), khác biệt liên nhóm cũng có ý nghĩa thống kê (6,0 so với 7,0 điểm; p=0,011). Tương tự, điểm 4GerdQ ở nhóm can thiệp thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm chứng (4,0 điểm so với 5,0 điểm; p=0,008), mức giảm so với trước điều trị cũng lớn hơn có ý nghĩa (p=0,040). Qua đó cho thấy phối hợp điện châm và nhĩ châm cải thiện có ý nghĩa cả điểm GerdQ tổng và điểm 4GerdQ so với đơn trị PPI sau 14 ngày điều trị.

Abstract:

Electroacupuncture combined with auricular acupuncture is considered a potential adjunctive therapy alongside proton pump inhibitors (PPIs) in the treatment of gastroesophageal reflux disease (GERD). A controlled clinical intervention study was conducted in GERD patients with a GerdQ score ≥ 8, who were randomly allocated to an intervention group (electroacupuncture combined with auricular acupuncture plus Esomeprazole 40 mg/day) and a control group (Esomeprazole alone), with follow-up assessments at baseline (day 0), day 7, and day 14, to investigate baseline clinical characteristics and treatment efficacy using the GerdQ scale and the 4GerdQ score (the four positive-predictive questions within the GerdQ questionnaire). Sixty-one patients completed the study (30 in the control group, 31 in the intervention group), with comparable baseline characteristics between the two groups (p>0.05). At baseline, the median GerdQ score was 10.0 in both groups (p=0.447); the 4GerdQ score was 8.0 in both groups (p=0.175). After 14 days, the GerdQ score decreased significantly within each group (p<0.001), and the between-group difference at day 14 was also statistically significant (6.0 versus 7.0; p=0.011). Likewise, the 4GerdQ score in the intervention group was significantly lower than in the control group (4.0 versus 5.0; p=0.008), and the reduction from baseline was also significantly greater (p=0.040). Combined electroacupuncture and auricular acupuncture significantly improved both the overall GerdQ score and the 4GerdQ score compared with PPI monotherapy after 14 days of treatment.


Đặc điểm và kháng sinh đồ của vi khuẩn gây viêm phổi ở bệnh nhân đợt cấp COPD tại khoa Hô hấp Bệnh viện Thống Nhất năm 2025

Characteristics and Antimicrobial Susceptibility of bacteria causing Pneumonia in Patients with Acute Exacerbation of COPD at Thong Nhat Hospital

Huỳnh Tuấn Cường, Nguyễn Hoàng Phương Khánh, Nguyễn Hữu Đức, Tô Hồ Xuân Thuận

Trang 83-88

Lượt tải: 19 Lượt xem: 49

DOI: 10.63947/bvtn.v2i9.11

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) thường gặp ở người cao tuổi; nhiễm khuẩn hô hấp và kháng kháng sinh làm phức tạp điều trị đợt cấp. Nghiên cứu nhằm mô tả đặc điểm vi khuẩn phân lập ở bệnh nhân đợt cấp COPD tại Khoa Hô hấp, Bệnh viện Thống Nhất. Nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp mô tả cắt ngang hồi cứu trên 271 bệnh nhân nhập viện được chẩn đoán đợt cấp COPD từ tháng 1/2025 đến tháng 12/2025. Các biến số bao gồm tuổi, giới, kết quả nuôi cấy vi khuẩn, loài vi khuẩn và kháng sinh đồ. Tuổi trung vị là 73 (khoảng tứ phân vị 16) tuổi; 243 bệnh nhân (89,7%) là nam. Trong 197 trường hợp nuôi cấy vi khuẩn, 63 bệnh nhân dương tính (32,0%) và phân lập được 75 chủng vi khuẩn (10 trường hợp có từ 2 chủng trở lên). Vi khuẩn Gram âm chiếm 66/75 (88,0%); Klebsiella pneumoniae và Pseudomonas aeruginosa chiếm phần lớn, cùng có 17 chủng (22,7%). Acinetobacter baumannii đề kháng 66,7% (6/9) với imipenem và meropenem; Klebsiella aerogenes đề kháng 85,7% (6/7) với piperacillin/tazobactam, cefepime và ciprofloxacin, và 71,4% (5/7) với meropenem. K. pneumoniae còn nhạy 90,9% với meropenem và 81,8% với imipenem nhưng chỉ 9,1% với ciprofloxacin. Trực khuẩn Gram âm chiếm ưu thế với tỉ lệ đề kháng kháng sinh cao. Kháng sinh nên được lựa chọn theo dữ liệu vi sinh tại chỗ và điều chỉnh theo kháng sinh đồ ở bệnh nhân cao tuổi.

Abstract:

Chronic obstructive pulmonary disease (COPD) is common among older adults, while respiratory infection and antimicrobial resistance complicate the management of exacerbations. This study aimed to describe bacterial isolates and antimicrobial resistance in patients with pneumonia during COPD exacerbations at the Department of Respiratory Medicine, Thong Nhat Hospital. A retrospective cross-sectional study included 271 patients admitted to the department from January to December 2025. Variables included age, sex, sputum culture results, bacterial species, and antimicrobial susceptibility. The median age was 73 years (interquartile range, 16), and 243 patients (89.7%) were male. Among 197 patients with sputum cultures, 63 (32.0%) had positive cultures, yielding 75 isolates. Gram-negative bacilli accounted for 66/75 isolates (88.0%); Klebsiella pneumoniae and Pseudomonas aeruginosa each accounted for 17 isolates (22.7%). Acinetobacter baumannii showed 66.7% (6/9) resistance to imipenem and meropenem; Klebsiella aerogenes showed 85.7% (6/7) resistance to piperacillin/tazobactam, cefepime, and ciprofloxacin, and 71.4% (5/7) resistance to meropenem. K. pneumoniae remained 90.9% susceptible to meropenem and 81.8% susceptible to imipenem but only 9.1% susceptible to ciprofloxacin. Gram-negative bacilli predominated among positive cultures. Antibiotic selection should be guided by local microbiological data and adjusted according to susceptibility results, particularly in older patients.


PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC VÀ CHI PHÍ TRỰC TIẾP Y TẾ Ở NGƯỜI BỆNH THOÁI HÓA KHỚP GỐI CÓ VÀ KHÔNG GHI NHẬN SỬ DỤNG ACID HYALURONIC TẠI BỆNH VIỆN THỐNG NHẤT, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Analysis of drug utilization and direct medical costs among patients with knee osteoarthritis with and without recorded hyaluronic acid use at Thong Nhat Hospital, Ho Chi Minh City

Trần Thị Phương Mai, Dương Thị Hồng Đoan, Trần Thị Hồng Nguyên, Phạm Thị Thu Hiền, Nguyễn Thị Hải Yến

Trang 89-97

Lượt tải: 18 Lượt xem: 38

DOI: 10.63947/bvtn.v2i9.12

Acid hyaluronic (HA) tiêm nội khớp được sử dụng trong điều trị thoái hóa khớp gối, nhưng dữ liệu về mô hình sử dụng thuốc và chi phí tại Việt Nam còn hạn chế. Nghiên cứu hồi cứu phân tích hồ sơ bệnh án điện tử, dữ liệu sử dụng thuốc và thanh toán của 25.575 người bệnh có mã ICD-10 M17.x tại Bệnh viện Thống Nhất giai đoạn 2024–2025. Trong đó, 894 người bệnh (3,5%) thuộc nhóm HA và 24.681 người bệnh thuộc nhóm không HA. Nhóm HA có tuổi trung bình (65,7 so với 61,0 tuổi) và tỷ lệ nữ (77,9% so với 63,0%) cao hơn. Tỷ lệ lượt khám ghi nhận NSAID và thuốc giảm đau ở nhóm HA thấp hơn nhóm không HA (45,0% so với 57,5% và 24,5% so với 31,7%), trong khi SYSADOA cao hơn (29,5% so với 26,3%). Trong phân tích chính ở 25.365 người bệnh có ít nhất 30 ngày quan sát, trung vị chi phí trực tiếp y tế là 13,23 [8,07; 24,11] triệu đồng/người-năm ở nhóm HA và 1,86 [0,88; 3,79] triệu đồng/người-năm ở nhóm không HA (p<0,001). Sau hiệu chỉnh, chi phí/người-năm ở nhóm HA cao hơn nhóm không HA (tỷ số chi phí 4,833; KTC 95%: 4,019–5,874; p<0,001). Kết quả phản ánh sự khác biệt về sử dụng thuốc và chi phí giữa hai nhóm trong thực hành tại bệnh viện..

Abstract:

Intra-articular hyaluronic acid (HA) is used to treat knee osteoarthritis; however, data on medication utilization patterns and healthcare costs in Vietnam remain limited. This retrospective observational study analyzed electronic medical records, medication utilization data, and billing records of patients with knee osteoarthritis with and without recorded HA use at Thong Nhat Hospital during 2024–2025. Among 25,575 patients with an ICD-10 M17.x diagnosis, 894 (3.5%) were classified into the HA group and 24,681 into the non-HA group. Patients in the HA group were older on average (65.7 vs. 61.0 years) and more likely to be female (77.9% vs. 63.0%). Compared with the non-HA group, the HA group had lower proportions of visits involving NSAIDs (45.0% vs. 57.5%) and analgesics (24.5% vs. 31.7%), but a higher proportion involving symptomatic slow-acting drugs for osteoarthritis (SYSADOAs) (29.5% vs. 26.3%). In the primary analysis restricted to patients with at least 30 days of available observation (n=25,365), the median annualized direct medical cost was VND 13.23 million per person-year [8.07–24.11] in the HA group and VND 1.86 million per person-year [0.88–3.79] in the non-HA group (p<0.001). After adjustment, annualized costs were higher in the HA group than in the non-HA group (adjusted cost ratio: 4.833; 95% CI: 4.019–5.874; p<0.001). These findings reflect differences in medication utilization patterns and costs between the two groups in routine hospital practice.


Đánh giá hiệu quả của cấy chỉ kết hợp siêu âm điều trị trên bệnh nhân thoái hóa khớp gối nguyên phát

Effectiveness of thread embedding therapy combined with therapeutic ultrasound in patients with primary knee osteoarthritis

Trần Thị Hoàng Oanh, Võ Tam, Nguyễn Thị Xuân Mai, Trần Hữu Tuấn

Trang 98-107

Lượt tải: 18 Lượt xem: 38

DOI: 10.63947/bvtn.v2i9.13

Theo Gánh nặng bệnh tật toàn cầu năm 2021, gánh nặng bệnh lý cơ xương khớp tăng nhanh trong giai đoạn 1990-2020, trong đó khớp gối là vị trí thường gặp của thoái hóa khớp với các biểu hiện như đau và hạn chế vận động…, gặp nhiều ở người cao tuổi và nữ giới. Điều trị bệnh thường kéo dài, đòi hỏi phối hợp nhiều phương pháp. Hiện nay, y học cổ truyền kết hợp y học hiện đại được ứng dụng rộng rãi, trong đó cấy chỉ và siêu âm điều trị là những phương pháp được quan tâm trong điều trị thoái hóa khớp gối. Đánh giá hiệu quả điều trị của cấy chỉ kết hợp siêu âm điều trị trên bệnh nhân thoái hóa khớp gối nguyên phát. Gồm 62 bệnh nhân điều trị tại Bệnh viện Y học cổ truyền Phú Yên được chẩn đoán Thoái hóa khớp gối nguyên phát, điều trị bằng phương pháp cấy chỉ kết hợp siêu âm điều trị. Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp nghiên cứu can thiệp lâm sàng, đánh giá trước-sau điều trị, không có nhóm chứng. Bệnh nhân ≥60 tuổi chiếm đa số, tỉ lệ nữ giới mắc bệnh cao hơn nam giới. Sau 21 ngày điều trị, điểm VAS trung bình giảm từ 72,63 ±5,90 mm xuống còn 20,71±9,99 mm, trung vị giảm từ 72 mm xuống 21 mm, Hiệu suất giảm của chỉ số Lequesne và khả năng tăng tầm vận động khớp gối lần lượt là 8,61±1,34 điểm, 30,16±7,20, chỉ số gót-mông trung bình giảm từ 25,95±8,49 cm xuống còn 9,84±5,72 cm, trung vị giảm từ 25 cm xuống 10,0 cm(p<0,001). Cấy chỉ kết hợp siêu âm điều trị có khả năng cải thiện đau và chức năng vận động; tuy nhiên, cần thêm nghiên cứu đối chứng và theo dõi dài hạn để đánh giá hiệu quả, độ an toàn.

Abstract:

According to the Global Burden of Disease Study 2021, the burden of musculoskeletal disorders increased rapidly between 1990 and 2020, with the knee being one of the most commonly affected sites of osteoarthritis. The disease is characterized by symptoms such as pain and restricted mobility and is more prevalent among older adults and women. Treatment is often prolonged and requires a multimodal approach. Currently, traditional medicine combined with modern medicine is widely applied, with thread embedding acupuncture and therapeutic ultrasound being among the treatment modalities of interest for knee osteoarthritis. To evaluate the therapeutic effectiveness of thread embedding therapy combined with therapeutic ultrasound in patients with primary knee osteoarthritis. The study included 62 patients diagnosed with primary knee osteoarthritis who were treated at Phu Yen Hospital of Traditional Medicine using a combination of thread embedding therapy and therapeutic ultrasound. A clinical interventional study with a before-and-after treatment design and no control group was conducted. Patients aged ≥60 years accounted for the majority of the study population, and the proportion of female patients was higher than that of male patients. After 21 days of treatment, the mean VAS score decreased from 72.63 ± 5.90 mm to 20.71 ± 9.99 mm, while the median decreased from 72 mm to 21 mm. The mean reductions in the Lequesne index and knee joint range of motion were 8.61 ± 1.34 points and 30.16 ± 7.20°, respectively. The mean heel-to-buttock distance decreased from 25.95 ± 8.49 cm to 9.84 ± 5.72 cm, with the median decreasing from 25 cm to 10.0 cm (p < 0.001). The combination of thread embedding acupuncture and therapeutic ultrasound may improve pain and physical function; however, further controlled studies with longer follow-up periods are needed to evaluate its efficacy and safety.


ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG Ở BỆNH NHÂN PHẪU THUẬT HÀN XƯƠNG TRƯỢT ĐỐT SỐNG THẮT LƯNG ĐỘ II

CLINICAL AND PARACLINICAL CHARACTERISTICS IN PATIENTS UNDERGOING GRADE II LUMBAR SPONDYLOLISTHESIS FUSION

Lê Khâm Tuân, Hoàng Minh Tú, Nguyễn Hữu Huỳnh Hải, Trương Triển Khang, Trần Thượng

Trang 108-113

Lượt tải: 17 Lượt xem: 60

DOI: 10.63947/bvtn.v2i9.14

TÓM TẮT: Mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng ở bệnh nhân phẫu thuật trượt đốt sống (TĐS) thắt lưng độ II tại Bệnh viện Thống Nhất TP.HCM. Hồi cứu 29 bệnh nhân (BN) TĐS độ II được phẫu thuật hàn xương liên thân đốt qua lỗ liên hợp từ tháng 05/2020 đến 12/2023. Các biến số lâm sàng, X-quang, MRI và điện cơ được ghi nhận và xử lý bằng phần mềm SPSS 25.0. Tuổi trung bình là 53,66 ± 9,76. Tỉ lệ nữ/nam là 4,8:1 (24 nữ, 5 nam). Tất cả BN đều có đau thắt lưng, trong đó 37,9% kèm đau rễ 1 bên và 62,1% kèm đau rễ 2 bên. 86,2% BN có dấu hiệu bậc thang. Nghiệm pháp Lasègue dương tính (< 70°) chiếm 68,9%. Vị trí trượt ở L4 chiếm 58,6% (17 BN), L5 chiếm 37,9% (11 BN) và L3 chiếm 3,4% (1 BN). Nguyên nhân TĐS do khuyết eo là 62,1% (18 BN) và thoái hóa là 37,9% (11 BN). TĐS do thoái hóa chủ yếu ở L4 (81,8%), trong khi TĐS do khuyết eo xảy ra nhiều hơn ở L5 (55,6%) (p = 0,028). Tỉ lệ trượt trung bình trên X-quang quy ước là 31,29 ± 5,98%, khoảng cách trượt trung bình là 12,04 ± 2,28 mm và chiều cao đĩa đệm trung bình là 6,72 ± 2,81 mm. Có mối tương quan nghịch mức độ trung bình giữa tỉ lệ trượt và chiều cao đĩa đệm (r = -0,432; p = 0,019). Tất cả 29 BN (100%) có hẹp ống sống và hẹp lỗ liên hợp trên MRI. Có 16 BN (55,2%) có bất thường dẫn truyền thần kinh cơ trên điện cơ. Bệnh nhân TĐS độ II có chỉ định phẫu thuật mang đặc điểm lâm sàng nổi bật của hẹp ống sống và hẹp lỗ liên hợp với dấu bậc thang có tỉ lệ xuất hiện cao. Tỉ lệ trượt đốt sống có tương quan nghịch mức độ trung bình với chiều cao đĩa đệm.

Abstract:

To describe the clinical and paraclinical characteristics of patients undergoing grade II lumbar spondylolisthesis fusion at Thong Nhat Hospital, Ho Chi Minh City. This retrospective study reviewed 29 patients with grade II lumbar spondylolisthesis who underwent transforaminal lumbar interbody fusion (TLIF) between May 2020 and December 2023 at Thong Nhat Hospital. Data were analyzed using SPSS 25.0. The mean age was 53.66 ± 9.76 years, and the female-to-male ratio was 4.8:1. All patients presented with lower back pain, with 37.9% accompanied by unilateral radicular pain and 62.1% by bilateral radicular pain. The step-off sign was present in 86.2% of patients. Positive Lasègue test (< 70°) was observed in 68.9%. Slippage occurred at L4 in 58.6% (17 patients), L5 in 37.9% (11 patients), and L3 in 3.4% (1 patient). The causes included isthmic defects (62.1%) and degeneration (37.9%). Degenerative spondylolisthesis occurred predominantly at L4 (81.8%), whereas isthmic spondylolisthesis was more frequent at L5 (55.6%) (p = 0.028). The mean percentage of vertebral slippage on conventional X-ray was 31.29 ± 5.98%, with a mean slippage distance of 12.04 ± 2.28 mm and mean disc height of 6.72 ± 2.81 mm. There was a moderate inverse correlation between percentage of slippage and disc height (r = -0.432; p = 0.019). Spinal stenosis and foraminal stenosis on MRI were found in all patients (100%). Neuromuscular conduction abnormalities on electromyography were present in 55.2% of cases. Surgical patients with grade II lumbar spondylolisthesis prominently present with features of spinal stenosis and foraminal stenosis, along with a high prevalence of the step-off sign. Vertebral slippage percentage shows a moderate inverse correlation with disc space height.


TÁC DỤNG CỦA DEXAMETHASONE TĨNH MẠCH TRONG KÉO THỜI GIAN GIẢM ĐAU SAU PHẪU THUẬT CHI TRÊN DƯỚI GÂY TÊ ĐÁM RỐI CÁNH TAY ĐƯỜNG TRÊN ĐÒN

THE EFFECT OF INTRAVENOUS DEXAMETHASONE ON POSTOPERATIVE ANALGESIA DURATION IN UPPER LIMB SURGERY WITH SUPRACLAVICULAR BRACHIAL PLEXUS BLOCK

Nguyễn Anh Tùng, Bùi Thị Thuận

Trang 114-120

Lượt tải: 17 Lượt xem: 39

DOI: 10.63947/bvtn.v2i9.15

Đặt vấn đề: Gây tê đám rối thần kinh cánh tay đường trên đòn thường được dùng để vô cảm và giảm đau sau mổ cho phẫu thuật chi trên nhưng thời gian giảm đau thường ngắn (<12 giờ). Nghiên cứu nhằm đánh giá tác dụng của dexamethasone tĩnh mạch trong việc kéo dài thời gian giảm đau sau mổ. Phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu mô tả trên 40 bệnh nhân phẫu thuật chi trên tại Bệnh viện Thống Nhất (02–09/2025). Người bệnh được gây tê đám rối cánh tay bằng ropivacaine 0,5% 20 ml dưới hướng dẫn siêu âm, phối hợp dexamethasone tĩnh mạch 8 mg. Các chỉ số theo dõi gồm thời gian vô cảm và giảm đau, chất lượng vô cảm, thang điểm VAS, nhu cầu opioid và biến chứng. Kết quả: Thời gian vô cảm và giảm đau trung bình đạt 1018,1±216,8 phút. 92,5% bệnh nhân đạt chất lượng vô cảm tốt. Điểm VAS thấp trong 6 giờ đầu, tăng tại 24 giờ và ổn định đến 48 giờ. Lượng opioid tiêu thụ trung bình là 115±24,7mg. Không ghi nhận biến chứng liên quan đến gây tê hoặc dexamethasone. Kết luận: Dexamethasone tĩnh mạch phối hợp với ropivacaine giúp kéo dài đáng kể thời gian giảm đau sau mổ, giảm nhu cầu opioid và an toàn trong thực hành lâm sàng.

Abstract:

Introduction: Supraclavicular brachial plexus block is commonly used for upper limb surgery but provides limited analgesia duration (<12 hours). This study aimed to evaluate the effect of intravenous dexamethasone on prolonging postoperative analgesia. Methods: A prospective descriptive study was conducted on 40 patients undergoing upper limb surgery at Thong Nhat Hospital (02–09/2025). Patients received a supraclavicular brachial plexus block with 20 ml of 0.5% ropivacaine under ultrasound guidance combined with intravenous dexamethasone 8 mg. Outcomes included duration of anesthesia and analgesia, block quality, VAS scores, opioid consumption, and adverse events. Results: The mean duration of anesthesia and analgesia was 1018.1±216.8 minutes. Good block quality was achieved in 92.5% of patients. VAS scores were low during the first 6 hours, increased at 24 hours, and stabilized by 48 hours. Mean opioid consumption was 115±24.7 mg. No complications related to the block or dexamethasone were observed. Conclusion: Intravenous dexamethasone combined with ropivacaine significantly prolongs postoperative analgesia, reduces opioid requirements, and is safe for clinical practice.


HIỆU QUẢ GIẢM ĐAU SAU PHẪU THUẬT THAY KHỚP GỐI CỦA TÊ ỐNG CƠ KHÉP PHỐI HỢP TÊ MẶT TRƯỚC KHỚP GỐI: BÁO CÁO LOẠT CA LÂM SÀNG BƯỚC ĐẦU

ANALGESIC EFFICACY OF ADDUCTOR CANAL BLOCK COMBINED WITH GENICULAR NERVE BLOCK AFTER TOTAL KNEE ARTHROPLASTY: A PRELIMINARY CASE SERIES

Đào Ngô Quyền, Nguyễn Anh Tùng, Nguyễn Thị Hiền

Trang 121-127

Lượt tải: 20 Lượt xem: 42

DOI: 10.63947/bvtn.v2i9.16

Đánh giá bước đầu hiệu quả giảm đau, nhu cầu opioids và tính an toàn của gây tê ống cơ khép (ACB) phối hợp gây tê thần kinh mặt trước khớp gối dưới siêu âm ở bệnh nhân phẫu thuật thay khớp gối toàn phần (TKA). Nghiên cứu tiến cứu mô tả loạt ca trên 21 bệnh nhân TKA nguyên phát tại Bệnh viện Thống Nhất (03/2025–09/2025). Bệnh nhân được gây tê 4 nhánh thần kinh gối trước mổ và ACB liều đơn sau mổ. Đánh giá điểm VAS lúc nghỉ (0–48 giờ), lượng fentanyl tiêu thụ 48 giờ, biến chứng và mức độ hài lòng.Kết quả 21 bệnh nhân (95,2% nữ, tuổi trung bình 66,1 ± 6,3). Điểm VAS đạt thấp nhất tại 6 giờ (0,81 ± 0,60), tăng trở lại ở 24 giờ (3,24 ± 0,83; $p < 0,001$) và duy trì đến 48 giờ (3,14 ± 0,79; $p < 0,001$). Fentanyl tiêu thụ trung bình 48 giờ là 121 ± 34,6 mcg. Không xảy ra biến chứng kỹ thuật. Tỷ lệ hài lòng và rất hài lòng đạt 95,2%. Phối hợp ACB và gây tê thần kinh mặt trước gối giúp giảm đau sớm hiệu quả (6–12 giờ đầu), an toàn và tiết kiệm opioid. Cần chủ động bổ sung giảm đau toàn thân gối đầu để kiểm soát hiện tượng đau dội ngược ở mốc 12–24 giờ.

Abstract:

To evaluate the preliminary efficacy, opioid-sparing effect, and safety of ultrasound-guided adductor canal block (ACB) combined with genicular nerve block in total knee arthroplasty (TKA). A prospective case series of 21 primary TKA patients receiving preoperative 4-branch genicular block and postoperative single-injection ACB. Resting VAS (0–48h), cumulative 48-hour fentanyl consumption, complications, and satisfaction were recorded. Patients (95.2% female, mean age 66.1 ± 6.3) showed maximum pain relief at 6h (VAS 0.81 ± 0.60), followed by a rebound at 24h (3.24 ± 0.83; $p < 0.001$) which stabilized through 48h (3.14 ± 0.79). Mean 48-hour fentanyl consumption was 121 ± 34.6 mcg. No procedural complications occurred, and 95.2% of patients were satisfied/very satisfied. Combined ACB and genicular nerve block provides safe, effective early post-TKA analgesia (6–12h) and reduces opioid requirements. Proactive multimodal systemic analgesia is required to manage rebound pain at 12–24 hours.


ĐẶC ĐIỂM CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA BỆNH NHÂN UNG THƯ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA VÙNG TÂY NGUYÊN

QUALITY OF LIFE AMONG CANCER PATIENTS RECEIVING TREATMENT AT TAY NGUYEN REGIONAL GENERAL HOSPITAL

Chu Thị Giang Thanh, Đào Thị Bích Phượng, Lê Thị Thảo

Trang 128-134

Lượt tải: 18 Lượt xem: 37

DOI: 10.63947/bvtn.v2i9.17

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư bị ảnh hưởng đáng kể trong suốt quá trình điều trị và phục hồi, đòi hỏi phải có cách tiếp cận chăm sóc toàn diện. Nghiên cứu này nhằm mô tả đặc điểm chất lượng cuộc sống của bệnh nhân đang điều trị ung thư tại Bệnh viện đa khoa vùng Tây Nguyên, làm cơ sở đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện chất lượng chăm sóc người bệnh. Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 137 bệnh nhân đang điều trị ung thư tại Khoa Ung Bướu, Bệnh viện đa khoa vùng Tây Nguyên. Chất lượng cuộc sống được đánh giá thông qua phỏng vấn bằng bộ công cụ EORTC QLQ-C30. Điểm trung bình CLCS lĩnh vực sức khỏe tổng quát là 50,1 ± 22,9 điểm; lĩnh vực chức năng đạt 59,0 ± 16,5 điểm; lĩnh vực triệu chứng là 30,2 ± 10,2 điểm. Điểm khó khăn tài chính ở mức cao, trung vị 66,7 điểm (33,3–66,7). Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư còn ở mức hạn chế, đặc biệt chịu ảnh hưởng bởi triệu chứng và gánh nặng tài chính. Điều này nhấn mạnh sự cần thiết của các biện pháp can thiệp có mục tiêu nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân ung thư.

Abstract:

According to the World Health Organization (WHO), the quality of life among cancer patients is significantly affected throughout the course of treatment and recovery, highlighting the need for a comprehensive care approach. This study aimed to describe the quality of life of cancer patients undergoing treatment at the Tay Nguyen Regional General Hospital, thereby providing evidence to propose appropriate interventions to improve patient care quality. A cross-sectional descriptive study was conducted cancer patients receiving treatment at the Oncology Department, Tay Nguyen Regional General Hospital. Quality of life was assessed through face-to-face interviews using the EORTC QLQ-C30 questionnaire. The mean score of global health status was 50.1 ± 22.9. The mean score of functional scale was 59.0 ± 16.5, while the mean score of symptom scale was 30.2 ± 10.2. Financial difficulties were reported at a high level, with a median of 66.7 (33.3–66.7). The quality of life of patients with cancer remains limited, particularly due to symptom burden and financial difficulties. These findings underscore the need for targeted interventions to improve the quality of life for cancer patients.


HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN GIÁO DỤC SỨC KHỎE CỦA ĐIỀU DƯỠNG ĐỐI VỚI NGƯỜI BỆNH NỘI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN THỐNG NHẤT NĂM 2025

HEALTH EDUCATION CONSULTATION ACTIVITIES OF NURSES FOR INPATIENTS AT THONG NHAT HOSPITAL IN 2025

Lê Thị Thơi, Vũ Thị Thuận, Nguyễn Hoàng Khanh

Trang 135-141

Lượt tải: 17 Lượt xem: 37

DOI: 10.63947/bvtn.v2i9.18

Giáo dục sức khỏe (GDSK) là thành phần quan trọng trong chăm sóc người bệnh, giúp nâng cao hiểu biết, khả năng tự chăm sóc và tuân thủ điều trị. Nghiên cứu nhằm mô tả thực trạng hoạt động tư vấn GDSK của điều dưỡng đối với người bệnh nội trú tại Bệnh viện Thống Nhất năm 2025 và phân tích các yếu tố liên quan. Nghiên cứu cắt ngang mô tả có phân tích thực hiện từ tháng 01 đến 08/2025 trên 500 người bệnh nội trú (mở rộng từ cỡ mẫu tối thiểu n = 385 theo công thức ước lượng một tỷ lệ, dự phòng hao hụt 23%) tại các khoa lâm sàng. Số liệu được thu thập bằng bảng câu hỏi cấu trúc đạt độ tin cậy nội tại cao (Cronbach’s alpha = 0,89). Trong 500 người bệnh (nam 63,2%, > 60 tuổi 70,4%), có 472 người bệnh (94,4%) cho biết được điều dưỡng tư vấn GDSK. Tỷ lệ 94,4% phản ánh mức độ bao phủ và tiếp nhận thông tin do người bệnh tự báo cáo (Self-reported coverage), không đồng nghĩa với hiệu quả chuyên môn tuyệt đối. Tất cả 15 nội dung GDSK đều đạt tỷ lệ tiếp nhận trên 90,0%. Điều dưỡng là nguồn cung cấp thông tin phổ biến nhất (97,0%). Tỷ lệ người bệnh chắc chắn quay lại/giới thiệu bệnh viện đạt 73,0% (365/500), giữ vai trò chỉ báo bổ trợ về lòng trung thành thương hiệu. Phân tích đa biến chỉ ra 3 yếu tố độc lập tác động tích cực đến kết quả tiếp nhận GDSK: Sự thoải mái chia sẻ với NVYT (aOR = 4,88; KTC 95%: 2,15–11,08; p < 0,001), Khả năng tiếp cận công nghệ thuận tiện (aOR = 2,45; KTC 95%: 1,22–4,92; p = 0,012) và Cảm nhận không bị căng thẳng tâm lý (aOR = 2,54; KTC 95%: 1,31–4,94; p = 0,006). Hoạt động tư vấn GDSK của điều dưỡng đạt độ bao phủ cao. Cần tiếp tục chuẩn hóa nội dung tư vấn, đào tạo kỹ năng giao tiếp ứng xử và ứng dụng công nghệ bổ trợ phù hợp với người bệnh cao tuổi.

Abstract:

Background: Health education is an essential component of patient care, improving knowledge, self-care ability, and treatment adherence. This study aimed to describe health education consultation activities provided by nurses to inpatients at Thong Nhat Hospital in 2025 and analyze associated factors. Materials and methods: A descriptive analytical cross-sectional study was conducted from January to August 2025 among 500 inpatients (expanded from a minimum sample size n = 385, 23% non-response buffer) at clinical departments. Data were collected using a structured questionnaire with high internal consistency (Cronbach’s alpha = 0.89). Among 500 patients (male 63.2%, aged > 60 years 70.4%), 472 patients (94.4%) reported receiving health education from nurses. The 94.4% rate represents self-reported coverage rather than technical performance. All 15 health education topics exceeded 90.0% reception. Nurses were the primary information source (97.0%). The proportion of patients intending to return/refer reached 73.0% (365/500) as a supplementary indicator of brand loyalty. Multivariable analysis revealed 3 independent predictors: Comfort in communication with staff (aOR = 4.88; 95% CI: 2.15–11.08; p < 0.001), Convenient technology access (aOR = 2.45; 95% CI: 1.22–4.92; p = 0.012), and Absence of psychological stress (aOR = 2.54; 95% CI: 1.31–4.94; p = 0.006). Nurses’ health education consultation achieved high coverage. Strengthening communication skills, standardizing contents, and introducing supportive digital tools tailored for elderly inpatients are recommended.


ỨNG DỤNG CT PHỔ TRONG CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT HUYẾT NÃO VÀ THOÁT THUỐC CẢN QUANG SAU CAN THIỆP LẤY HUYẾT KHỐI CƠ HỌC TẠI BỆNH VIỆN THỐNG NHẤT: BÀI BÁO HÌNH ẢNH MINH HỌA

APPLICATION OF SPECTRAL CT IN DIFFERENTIATING INTRACRANIAL HEMORRHAGE FROM CONTRAST EXTRAVASATION AFTER MECHANICAL THROMBECTOMY AT THONG NHAT HOSPITAL

Trần Thị Hậu, Huỳnh Nguyên Thuận, Bùi Thị Thanh Tâm, Đỗ Võ Công Nguyên

Trang 142-147

Lượt tải: 16 Lượt xem: 41

DOI: 10.63947/bvtn.v2i9.19

Tại Bệnh viện Thống Nhất, can thiệp lấy huyết khối cơ học là một trong những phương pháp điều trị hiệu quả và được tiến hành thường xuyên đối với những bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não cấp do tắc mạch lớn đến trong cửa sổ điều trị. Sau tái thông mạch, trên hình ảnh cắt lớp vi tính sọ não không tiêm thuốc, tình trạng chuyển dạng xuất huyết trên vùng nhồi máu hoặc tẩm nhuận thuốc cản quan sau can thiệp đều biểu hiện là các vùng tăng tỉ trọng rất khó để chẩn đoán phân biệt. Cắt lớp vi tính hai mức năng lượng (Dual-Energy CT – DECT) cho phép phân tích vùng tổn thương với các hình ảnh tái tạo tạo Monoenergetic (MonoE), Virtual Non-Contrast (VNC) và Iodine Density, giúp xác định bản chất tổn thương là xuất huyết hay thuốc cản quang, từ đó hỗ trợ trong việc tiên lượng, theo dõi và quản lý bệnh nhân sau can thiệp hiệu quả hơn. Bài viết này xin trình bày các ứng dụng của CT phổ và một số ca lâm sàng thực tế tại BV Thống Nhất – TP Hồ Chí Minh nhằm làm rõ vai trò của DECT trong đánh giá bệnh nhân sau can thiệp lấy huyết khối mạch máu não

Abstract:

After mechanical thrombectomy, hyperattenuating areas on non-contrast CT may represent intracranial hemorrhage, contrast extravasation, or both, and conventional CT may not reliably distinguish them. This article aims to describe the role of spectral/dual-energy CT in this setting at Thong Nhat Hospital. This article describes the principles and applications of virtual monoenergetic images (MonoE), virtual non-contrast (VNC) images, and iodine density maps generated on a Spectral CT 7500 system, illustrated by post-thrombectomy clinical cases from Thong Nhat Hospital. Iodine-containing lesions change more across MonoE energy levels, decrease or disappear on VNC images, and are visible on iodine density maps. Blood components tend to persist on VNC and show less energy-dependent attenuation change; mixed lesions require integrated assessment of multiple spectral reconstructions. Spectral CT improves early differentiation between intracranial hemorrhage and contrast extravasation, supporting post-procedural antithrombotic decisions and follow-up. Findings should be interpreted with the clinical context and follow-up imaging rather than a single universal iodine concentration threshold.

Báo cáo ca lâm sàng

GHÉP GAN PHẢI TỪ NGƯỜI HIẾN SỐNG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ BIỂU MÔ TẾ BÀO GAN TRÊN NỀN XƠ GAN MẤT BÙ: BÁO CÁO CA GHÉP ĐẦU TIÊN TẠI BỆNH VIỆN THỐNG NHẤT

RIGHT-LOBE LIVING DONOR LIVER TRANSPLANTATION FOR HEPATOCELLULAR CARCINOMA WITH DECOMPENSATED CIRRHOSIS: THE FIRST CASE AT THONG NHAT HOSPITAL

Lê Đình Thanh, Đỗ Kim Quế, Võ Thành Toàn, Nguyễn Quang Vinh, Nguyễn Khánh Vân, Nguyễn Xuân Hoà, Phạm Công Khanh, Lê Thanh Nghị, Lê Hiếu, Nguyễn Hải Nam

Trang 1-10

Lượt tải: 20 Lượt xem: 50

DOI: 10.63947/bvtn.v2i9.1

Ghép gan từ người hiến sống là một lựa chọn điều trị có khả năng chữa khỏi cho bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan trên nền xơ gan mất bù, đặc biệt tại các quốc gia có nguồn tạng hiến từ người chết não hạn chế. Chúng tôi báo cáo ca ghép gan từ người hiến sống đầu tiên tại Bệnh viện Thống Nhất, Thành phố Hồ Chí Minh. Bệnh nhân nam 50 tuổi mắc ung thư biểu mô tế bào gan đơn độc kích thước 4,8 cm trên nền xơ gan Child–Pugh C, MELD 18 do đồng nhiễm virus viêm gan B và C, kèm đái tháo đường típ 2. Người hiến là em trai ruột 29 tuổi, khỏe mạnh và tương hợp nhóm máu. Mảnh ghép gan phải được sử dụng. Diễn biến lâm sàng, xét nghiệm và hình ảnh học được theo dõi từ trước phẫu thuật đến ngày hậu phẫu thứ 16. Phẫu thuật hoàn thành trong 8 giờ. Lactate máu giảm rõ rệt trong 12 giờ đầu và trở về giới hạn bình thường từ N2. AST đạt đỉnh 474 U/L vào N2 và ALT đạt đỉnh 626 U/L vào N3, sau đó giảm dần. Từ N7 đến N10, bệnh nhân xuất hiện một đợt tăng thứ phát aminotransferase, GGT và bilirubin trực tiếp. Siêu âm Doppler và CT không ghi nhận huyết khối mạch máu hoặc giãn đường mật. CT ghi nhận hẹp nhẹ miệng nối động mạch gan, trong khi các thông số Doppler hiện có chưa gợi ý ảnh hưởng huyết động rõ; bilirubin dịch dẫn lưu không gợi ý rò mật. Các chỉ số sinh hóa cải thiện sau khi tối ưu hóa điều trị ức chế miễn dịch, nhưng không thực hiện sinh thiết gan để xác định thải ghép. Đến N16, chức năng tổng hợp mảnh ghép ổn định với prothrombin 82% và albumin 42,7 g/L (N15), tiểu cầu 122 G/L. Người hiến hồi phục thuận lợi và xuất viện vào N12. Không ghi nhận huyết khối mạch máu, rò mật, nhiễm khuẩn nặng hoặc thải ghép được xác nhận bằng mô bệnh học trong thời gian theo dõi. Ca bệnh cho thấy tính khả thi ban đầu của việc triển khai ghép gan từ người hiến sống tại Bệnh viện Thống Nhất. Sự chuẩn bị đa chuyên khoa và mô hình chuyển giao kỹ thuật từ Bệnh viện TWQĐ 108 đóng vai trò quan trọng trong kết quả sớm thuận lợi. Cần theo dõi dài hạn và tích lũy thêm trường hợp để đánh giá đầy đủ tính an toàn và hiệu quả của chương trình.

Abstract:

Living donor liver transplantation (LDLT) is a potentially curative treatment for hepatocellular carcinoma (HCC) in patients with decompensated cirrhosis, particularly in countries with limited availability of deceased-donor organs. We report the first LDLT performed at Thong Nhat Hospital, Ho Chi Minh City, Vietnam. A 50-year-old man had a solitary 4.8-cm HCC within the Milan criteria on a background of Child–Pugh class C cirrhosis (MELD score, 18) associated with hepatitis B and C virus coinfection. He also had type 2 diabetes mellitus. His healthy 29-year-old brother, who was ABO-compatible, served as the living donor, and a right-lobe graft was used. Clinical, biochemical, and imaging findings were followed from the preoperative period through postoperative day (POD) 16. The operation was completed in 8 hours. Serum lactate decreased substantially within the first 12 hours and normalized by POD 2. Aspartate aminotransferase peaked at 474 U/L on POD 2 and alanine aminotransferase at 626 U/L on POD 3, followed by a progressive decline. Between POD 7 and POD 10, a secondary increase in aminotransferases, gamma-glutamyl transferase, and direct bilirubin occurred. Doppler ultrasonography and computed tomography showed no vascular thrombosis or biliary dilatation. CT demonstrated mild hepatic artery anastomotic narrowing, while the available Doppler measurements did not suggest a clear hemodynamic impact; drain-fluid bilirubin did not suggest a bile leak. Biochemical indices improved after optimization of immunosuppressive therapy; however, liver biopsy was not performed to confirm rejection. By POD 16, prothrombin activity was 82% and the platelet count was 122 × 10⁹/L; the most recent serum albumin level was 42.7 g/L on POD 15. The donor recovered uneventfully and was discharged on POD 12. No vascular thrombosis, bile leak, severe infection, or biopsy-proven rejection was documented during the observation period. This case demonstrates the initial feasibility of establishing an LDLT program at Thong Nhat Hospital. Multidisciplinary preparation and technical collaboration with 108 Military Central Hospital were important contributors to the favorable early outcome. Longer follow-up and additional cases are required to establish the safety and effectiveness of the program.

Xem Tất cả Các số