Nghiên cứu khoa học

145 mục

KẾT QUẢ PHẪU THUẬT NỘI SOI ĐÓNG HẬU MÔN NHÂN TẠO SAU PHẪU THUẬT HARTMANN Ở KHOA NGOẠI TIÊU HÓA BỆNH VIỆN THỐNG NHẤT

LAPAROSCOPIC REVERSAL OF HARTMANN’S PROCEDURE IN THE DEPARTMENT OF GASTROINTESTINAL SURGERY AT THONG NHAT HOSPITAL

Hoàng Anh Bắc, Lê Tiến Dũng, Vũ Lộc

Trang 60-63

Lượt tải: 416 Lượt xem: 398

DOI: 10.63947/bvtn.v1i3.7

Phẫu thuật nội soi phục hồi lưu thông ruột sau Hartmann mang lại nhiều lợi ích nhưng vẫn là thách thức đáng kể với phẫu thuật viên tiêu hóa. Đánh giá tính khả thi, an toàn và hiệu quả của phẫu thuật nội soi đóng hậu môn nhân tạo sau phẫu thuật Hartmann tại Bệnh viện Thống Nhất. Nghiên cứu hồi cứu mô tả phân tích 35 trường hợp được thực hiện từ tháng 2/2017 đến tháng 5/2025. Bệnh nhân đã được phẫu thuật Hartmann, còn hậu môn nhân tạo đại tràng kiểu tận, được phẫu thuật nội soi phục hồi lưu thông ruột. Tỉ lệ thành công của phẫu thuật nội soi là 85,71%. Biến chứng chính là nhiễm trùng vết mổ (30%), xì miệng nối và tắc ruột (mỗi loại 3%). Thời gian phẫu thuật trung bình là 162 phút, thời gian nằm viện trung bình là 9,3 ngày. Không có trường hợp tử vong. Phẫu thuật nội soi đóng hậu môn nhân tạo sau Hartmann là phương pháp khả thi, an toàn và hiệu quả, với tỉ lệ thành công cao và biến chứng thấp.

Abstract:

 Laparoscopic restoration of intestinal continuity after Hartmann’s procedure offers significant benefits but remains a considerable challenge for gastrointestinal surgeons. To evaluate the feasibility, safety, and efficacy of laparoscopic colostomy closure after Hartmann’s procedure at Thong Nhat Hospital. A retrospective descriptive analysis was conducted on 35 cases from February 2017 to May 2025. Patients who had undergone Hartmann’s procedure with an end colostomy and received laparoscopic intestinal continuity restoration were included. The laparoscopic success rate was 85.71%. Major complications included surgical site infection (30%), anastomotic leakage, and intestinal obstruction (3% each). The average operative time was 162 minutes, and the mean hospital stay was 9.3 days. There were no mortality cases. Laparoscopic reversal of Hartmann’s procedure is a feasible, safe, and effective method with a high success rate and low complication rate.

KẾT QUẢ TÁI TẠO DÂY CHẰNG CHÉO TRƯỚC KHỚP GỐI KÈM KHÂU SỪNG SAU SỤN CHÊM

THE RESULTS OF ACL RECONSTRUCTION WITH REPAIR OF POSTERIOR HORN OF THE MENISCUS

Nguyễn Minh Dương, Võ Thành Toàn, Ngô Hoàng Viễn, Đỗ Duy

Trang 62-68

Lượt tải: 287 Lượt xem: 318

DOI: 10.63947/bvtn.v1i4.10

Đánh giá kết quả tái tạo dây chằng chéo trước (DCCT) kèm khâu sừng sau sụn chêm. Nghiên cứu tiến cứu mô tả loạt ca 34 BN bị đứt DCCT kèm rách sừng sau sụn chêm được lên lịch phẫu thuật nội soi khớp gối tại bệnh viện Thống Nhất từ 03/2020 đến tháng 03/2023. Kết quả có 17 nam và 17 nữ, tuổi trung bình 36 (từ 18 đến 50 tuổi). Chỉ số khối cơ thể (BMI): trung bình 24 (từ 18 đến 32). Cơ chế chấn thương: 42,3% tai nạn thể thao, 32,7% tai nạn giao thông, 25% tai nạn sinh hoạt. Thời gian trung bình trước phẫu thuật là 44 ngày (4-180 ngày). Tổn thương sừng sau sụn chêm trong chiếm 38,2% BN và tổn thương sừng sau sụn chêm ngoài chiếm 61,8% BN. Tổn thương sụn khớp theo Outerbrigde: 70% độ 2, 17% độ 1 và 13% độ 3. Sau 1 năm, điểm IKDC trung bình là 78,28 (từ 68 đến 83), điểm Tegner Lysholm trung bình là 88,28 (từ 70 đến 94). Các BN có kết quả DCCT còn vững sau 1 năm theo dõi với tỉ lệ trên 88,2%, các BN có kết quả kiểm tra sụn chêm tốt sau 1 năm theo dõi với tỉ lệ trên 73,5%. Tất cả các BN đều thỏa mãn. 83% BN có thoái hóa khớp K-L độ I và 17% BN K-L độ II, không có BN nào K-L độ III hay IV trên X-quang khớp gối sau 1 năm. Chưa ghi nhận biến chứng nhiễm trùng, chậm lành thương, tổn thương thần kinh, mạch máu, thuyên tắc phổi, huyết khối tĩnh mạch sâu; 21,2% BN có viêm hoạt mạc khớp gối. Phẫu thuật nội soi tái tạo DCCT kèm khâu sừng sau sụn chêm cho kết quả thỏa mãn.

Abstract:

To evaluate the results of ACL reconstruction with repair of posterior horn of the meniscus. prospective study of 34 patients with ACL rupture with posterior horn of the meniscus tear underwent elective knee arthroscopy at Thong Nhat hospital from March 2020 to March 2023. There are 17 males and 17 females.  Mean age was 36 years (from 18 to 50 years). Body mass index (BMI): average 24 (range 18 to 32). Mechanism of injury: 42.3% sports accidents, 32.7% traffic accidents, 25% daily life accidents. The mean time before surgery was 44 days (4-180 days). Posterior horn medial meniscus tear accounts for 38.2% of patients and lateral horn medial meniscus tear accounts for 61.8% of patients. Chondral lesions according to Outerbrigde: 70% grade 2, 17% grade 1 and 13% grade 3. After 1 year, the mean IKDC score was 78.28 points (from 68 to 83 points), the mean Lysholm score was 88.28 points (from 70 to 94 points). Patients with knee joint stability after 1 year of follow-up have a rate of over 88.2%, patients with good symptoms of a meniscus tear after 1 year of follow-up have a rate of over 73.5%. All patients were satisfied. 83% of patients with grade I and 17% of patients with grade II according to K-L system for classification of osteoarthritis on X-ray of the knee joint after 1 year. No complications of infection, delay healing, nerve or vascular injuries, pulmonary embolism, deep vein thrombosis; 21.2% of patients had synovitis. ACL reconstruction with repair of posterior horn of the meniscus gave satisfactory results

KHẢO SÁT DẤU ẤN MIỄN DỊCH HLA-B27 BẰNG KỸ THUẬT FLOW CYTOMETRY TRONG CHẨN ĐOÁN BỆNH LÝ VIÊM CỘT SỐNG DÍNH KHỚP

ASSESSMENT OF HLA-B27 EXPRESSION BY FLOW CYTOMETRY AND ITS CLINICAL RELEVANCE IN ANKYLOSING SPONDYLITIS

Nguyễn Quang Đẳng, Huỳnh Thị Thanh Thuý, Nguyễn Thị Mỹ Linh

Trang 95-100

Lượt tải: 208 Lượt xem: 179

DOI: 10.63947/bvtn.v2i6.14

Viêm cột sống dính khớp (VCSDK) là một bệnh lý viêm mạn tính có liên quan chặt chẽ đến yếu tố di truyền HLA-B27, trong đó xét nghiệm HLA-B27 đóng vai trò quan trọng trong hỗ trợ chẩn đoán, đặc biệt trong giai đoạn sớm và kỹ thuật flow cytometry hiện là một phương pháp mới với tiềm năng ứng dụng cao trong phát hiện HLA-B27. Nghiên cứu này nhằm xác định tỷ lệ HLA-B27 dương tính và âm tính ở bệnh nhân VCSDK và đánh giá mối liên quan giữa HLA-B27 với các đặc điểm sinh học của nhóm bệnh nhân. Nghiên cứu mô tả hồi cứu được thực hiện tại Bệnh viện Thống Nhất từ tháng 01/2025 đến 07/2025 trên bệnh nhân chẩn đoán VCSDK được xác định theo mã ICD M45. Xét nghiệm HLA-B27 được thực hiện bằng kỹ thuật flow cytometry, dữ liệu được xử lý thống kê mô tả và phân tích mối liên quan với phần mềm Excel 2021. Trong tổng số 248 người bệnh được chẩn đoán VCSDK dựa trên mã ICD M45, nữ giới chiếm ưu thế (tỷ lệ nam:nữ là 1:1,5). Độ tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là 44,6 ± 14,9. Tỷ lệ HLA-B27 dương tính là 12% (30/248), thấp hơn đáng kể so với nhiều nghiên cứu trước. Bệnh nhân HLA-B27 dương tính có tuổi khởi phát bệnh trung bình thấp hơn so với nhóm âm tính (40,9 ± 15,4 so với 45,1 ± 14,8; p = 0,048). Không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về giới tính giữa hai nhóm (p > 0,05), tuy nhiên nhóm âm tính có tỷ lệ nữ cao hơn. Từ đó, chúng tôi đưa ra kết luận, tỷ lệ HLA-B27 dương tính ở bệnh nhân VCSDK trong nghiên cứu này thấp hơn so với dữ liệu trong và ngoài nước, có thể phản ánh đặc điểm dân số và tiêu chí sàng lọc rộng. HLA-B27 dương tính có liên quan đến tuổi khởi phát bệnh trẻ hơn, gợi ý vai trò không chỉ trong chẩn đoán mà còn trong đặc điểm lâm sàng của bệnh. Kỹ thuật flow cytometry cho thấy hiệu quả trong khảo sát HLA-B27 và có tiềm năng ứng dụng rộng rãi trong lâm sàng.

KHẢO SÁT DẤU ẤN MIỄN DỊCH Ở BỆNH LÝ HUYẾT HỌC BẰNG KỸ THUẬT FLOW CYTOMETRY

ROLE OF FLOW CYTOMETRY IN THE DIAGNOSIS OF HEMATOLOGIC DISEASES

Nguyễn Quang Đẳng, Đào Thị Phương Anh, Nguyễn Thị Mỹ Linh

Trang 88-94

Lượt tải: 382 Lượt xem: 336

DOI: 10.63947/bvtn.v2i6.13

Nghiên cứu với mục tiêu nhằm mô tả đặc điểm các bệnh lý huyết học thường gặp thông qua khảo sát dấu ấn miễn dịch bằng kỹ thuật Flow Cytometry (FCM) với phương pháp nghiên cứu là mô tả hồi cứu hàng loạt ca được thực hiện trên tất cả bệnh nhân từ 16 tuổi trở lên được chỉ định xét nghiệm FCM tại khoa Huyết học, Bệnh viện Thống Nhất từ tháng 01/2023 đến tháng 03/2025. Cỡ mẫu là lấy mẫu thuận tiện. Dữ liệu được phân tích bằng phần mềm Microsoft Excel 2021. Kết quả tổng cộng 104 bệnh nhân đã được thực hiện xét nghiệm tế bào theo dòng chảy (FCM) tại khoa Huyết học của Bệnh viện Thống Nhất. Tuổi trung vị tại thời điểm chẩn đoán là 68 tuổi [55,8 - 77 tuổi]. Đặc điểm huyết học ban đầu cho thấy tình trạng thiếu máu (Hb 9,3 ± 2,6 g/dL) và sự biến thiên lớn về số lượng bạch cầu (20,1 ± 42,4 K/uL) và tiểu cầu (197 ± 172,3 K/uL), phản ánh sự đa dạng của các bệnh lý.  Kết quả nghiên cứu khẳng định giá trị của FCM trong chẩn đoán và phân loại nhiều bệnh lý: xác định dòng bạch cầu cấp (tủy/lympho B, T), phát hiện tế bào lympho đơn dòng trong u lympho và phân biệt tương bào lành tính/ác tính trong đa u tủy. So sánh với tủy đồ cho thấy độ phù hợp cao, đặc biệt trong các trường hợp khó. Tuy nhiên, FCM không thay thế hoàn toàn được tủy đồ trong đánh giá hình thái và cấu trúc mô. Từ đó, đưa ra kết luận FCM là công cụ bổ trợ mạnh mẽ, không thể thiếu trong chẩn đoán bệnh lý huyết học. Sự kết hợp giữa FCM và tủy đồ mang lại độ chính xác tối ưu, hỗ trợ hiệu quả cho việc chẩn đoán và quản lý bệnh nhân.

Abstract:

This study aimed to describe the characteristics of common hematological disorders through immunophenotypic analysis using flow cytometry (FCM). A retrospective descriptive study was conducted on all patients aged 16 years and older who were analyzed by FCM testing at the Hematology Department, Thong Nhat Hospital from January 2023 to March 2025. Convenience sampling was applied. Data analysis was performed using Microsoft Excel 2021. A total of 104 patients were tested by flow cytometry. The median age at diagnosis was 68 years [55.8–77]. Baseline hematologic findings showed anemia (Hb 9.3 ± 2.6 g/dL) and wide variations in white blood cell (20.1 ± 42.4 K/uL) and platelet counts (197 ± 172.3 K/uL), reflecting the diversity of underlying hematologic conditions. FCM demonstrated high diagnostic value in identifying and classifying various hematologic disorders: distinguishing acute leukemia lineages (myeloid/B-lymphoid/T-lymphoid), detecting monoclonal lymphoid populations in lymphomas, and differentiating benign from malignant plasma cells in multiple myeloma. Correlation with bone marrow morphology was high, especially in diagnostically challenging cases. However, FCM could not fully replace bone marrow examination in assessing cellular morphology and tissue architecture. In conclusion, Flow cytometry is a powerful complementary tool in the diagnosis of hematologic disorders. The combination of FCM and bone marrow studies provides optimal diagnostic accuracy and supports effective patient management.

 

KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM NỘI SOI, CT-SCAN VÀ VỊ TRÍ CHÂN BÁM CỦA POLYP KILLIAN

EVALUATION OF ENDOSCOPIC, CT SCAN FEATURES AND ATTACHMENT SITE OF KILLIAN’S POLYP

Nguyễn Thị Hà, Trần Phan Chung Thuỷ

Trang 69-77

Lượt tải: 145 Lượt xem: 346

DOI: 10.63947/bvtn.v2i8.10

Polyp Killian (Antrochoanal polyp) chiếm khoảng 4% - 6% tổng số polyp mũi nói chung. Tuy nhiên, vị trí chân bám của polyp Killian nằm trong lòng xoang hàm nên khó tiếp cận trực tiếp để loại bỏ
chân bám dẫn đến tỷ lệ tái phát sau phẫu thuật còn cao. Theo nghiên cứu của F. Galluzzi 2018 tỷ lệ tái phát sau phẫu thuật là 15%. Vì vậy, cần xác định vị trí chân bám của polyp Killian. Mục tiêu nghiên cứu: Khảo sát đặc điểm nội soi, CT-scan và vị trí chân bám của polyp Killian. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: NC mô tả hàng loạt ca bệnh, cách lấy mẫu hồi cứu và tiến cứu. Kết quả nghiên cứu: Tỉ lệ nam nhiều hơn nữ 1,85/1. Hầu hết BN đến khám ở giai đoạn muộn che lấp cửa mũi sau 1 phần hay hoàn toàn 89.2%. Hình ảnh mờ các xoang cùng bên polyp Killian trên CT-scan theo thứ tự lần lượt là xoang hàm 100%, xoang sàng trước 67.6%, sàng sau 41.5%, xoang trán 24.3%, xoang bướm 16.2%. Lỗ thông xoang hàm phụ ở bên có polyp Killian chiếm 49% trên CT-scan, đối bên chiếm 16.2%, có sự liên quan với nhau có ý nghĩa thống kê (p=0.018<0.05). Trong 37 BN có polyp Killian, có 6 chiếm 16.2% ca có nang xoang hàm bên đối diện. Cả 6 ca đều có polyp kích thước nhỏ nằm trong lòng xoang hàm và đọc được vị trí chân bám. Trên CT-scan có 16.2% mờ xoang hàm một phần thì xác định được vị trí chân, 83.8% mờ toàn bộ không xác định được. Polyp Killian thường xuất phát ở thành trong (13 ca, 35.1%), thành sau (9 ca, 24.3%), thành dưới (4 ca, 10.8%), rất hiếm ở thành trước (3 ca, 8.1%) và không có trường hợp nào xuất phát ở thành trên xoang hàm. Trong phẫu thuật xác định lỗ thông xoang hàm phụ rõ ràng và chính xác hơn trên CT-scan lần lượt là 59.5% và 49%. Hình ảnh concha bullosa không có liên quan đến polyp Killian (p>0.05). Có 20/37 (54%) ca vẹo vách ngăn. Không có sự liên quan có ý nghĩa thống kê giữa vị trí polyp Killian và bên vẹo vách ngăn (P=0.501>0.05). Kết luận: Hầu hết các BN đến khám ở giai đoạn muộn. Hình ảnh mờ xoang hàm, sàng thường gặp nhất trên BN có polyp Killian. Có sự liên quan có ý nghĩa thống kê giữa lỗ thông xoang hàm phụ và bên có polyp Killian. Vị trí chân bám của polyp Killian trong phẫu thuật xác định rõ hơn trên CT-scan.

Abstract:

Killian’s polyp (antrochoanal polyp) accounts for approximately 4% to 6% of all nasal polyps. However, the attachment site of Killian’s polyp is located within the maxillary sinus, making it difficult to visualize and access directly. According to a study by F. Galluzzi in 2018, the recurrence rate after surgery is 15%. Therefore, identifying the attachment site of Killian’s polyp is essential. Objective: To investigate the endoscopic and CT-scan characteristics, as well as the attachment site of Killian’s polyp. Materials and Methods: A case series study using both retrospective and prospective sampling methods. Results: The male-to-female ratio was 1.85:1. Most patients presented in the late stage, with 89.2% showing partial or complete obstruction of the choana. On CT scan, opacification of sinuses on the same side as the polyp was observed in the following order: maxillary sinus (100%), anterior ethmoid (67.6%), posterior ethmoid (41.5%), frontal sinus (24.3%), and sphenoid sinus (16.2%). An accessory maxillary sinus ostium was detected on the polyp side in 49% of cases and on the contralateral side in 16.2%, with a statistically significant association (p = 0.018 < 0.05). Among 37 patients with Killian’s polyp, 6 (16.2%) had contralateral maxillary sinus cysts. All six of these had small polyps within the maxillary sinus, and the attachment site was identifiable. In 16.2% of cases with partial opacification of the maxillary sinus on CT scan, the attachment site could be determined, whereas in 83.8% with complete opacification, the site could not be identified. Killian’s polyp most commonly originated from the medial wall (13 cases, 35.1%), followed by the posterior wall (9 cases, 24.3%), inferior wall (4 cases, 10.8%), and rarely from the anterior wall (3 cases, 8.1%). No cases originated from the superior wall of the maxillary sinus. During surgery, the accessory maxillary ostium was more clearly and accurately identified than on CT scans (59.5% vs. 49%). The presence of concha bullosa was not associated with Killian’s polyp (p > 0.05). Nasal septal deviation was observed in 20 of 37 cases (54%). There was no statistically significant correlation between the polyp’s side and the side of septal deviation (p = 0.501 > 0.05). Conclusion: Most patients presented at a late stage. Maxillary and ethmoid sinus opacification are the most common imaging findings in patients with Killian’s polyp. There is a statistically significant association between the presence of an accessory maxillary ostium and the side of the Killian’s polyp. The polyp attachment site is more clearly identified during surgery than on CT scans.

KHẢO SÁT MỐI LIÊN QUAN GIỮA NHU CẦU SỬ DỤNG CHẾ PHẨM MÁU VÀ MÔ HÌNH BỆNH TẬT Ở BỆNH NHÂN TRUYỀN MÁU LẦN ĐẦU TẠI BỆNH VIỆN THỐNG NHẤT

SURVEY OF THE CORRELATION BETWEEN THE DEMAND FOR BLOOD PRODUCTS AND DISEASE PATTERNS IN FIRST-TIME BLOOD TRANSFUSION PATIENTS AT THONG NHAT HOSPITAL

Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Thị Nhã Ca, Trần Đại Thuận, Đỗ Gia Phú, Trần Hoàng Trúc Hương, Lê Ngọc Nữ

Trang 124-129

Lượt tải: 327 Lượt xem: 542

DOI: 10.63947/bvtn.v1i2.18

Truyền máu đóng vai trò quan trọng trong điều trị nhiều bệnh lý cấp tính và mạn tính, đặc biệt ở nhóm bệnh nhân cao tuổi mắc các bệnh lý nền cần can thiệp truyền máu. Việc hiểu rõ về mối liên quan giữa nhu cầu sử dụng chế phẩm máu (CPM) và mô hình bệnh tật sẽ giúp bệnh viện chủ động hơn trong việc xây dựng kế hoạch dự trữ và cấp phát các CPM nhằm tối ưu hóa trong công tác điều trị và giảm nguy cơ bị động hay thiếu hụt. Xác định mối liên quan giữa nhu cầu sử dụng các chế phẩm máu và mô hình bệnh tật ở bệnh nhân. Nghiên cứu mô tả cắt ngang, loại và số lượng CPM từ phiếu cung cấp chế phẩm máu của 2180 bệnh nhân có chỉ định truyền máu lần đầu. Nhóm bệnh lý thiếu máu chiếm tỷ lệ cao nhất (25,83%), tiếp theo là xuất huyết tiêu hoá (19,68%), ung bướu (12,52%). Khối hồng cầu (KHC) là CPM được sử dụng phổ biến nhất, đặc biệt ở các nhóm bệnh thiếu máu (88,45%), xuất huyết tiêu hóa (93,24%) và ung bướu (93,04%). Huyết tương tươi đông lạnh (HTTĐL) được sử dụng nhiều trong nhóm xuất huyết tiêu hoá (4,90%) với số lượng trung bình cao (5,29 đơn vị/bệnh nhân). Khối tiểu cầu (KTC) được sử dụng nhiều ở bệnh nhân thiếu máu (9,24%) và ung bướu (5,86%). Các kết quả cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhu cầu sử dụng CPM và nhóm bệnh lý (p < 0,001). Nhu cầu sử dụng các CPM có mối liên quan chặt chẽ với mô hình bệnh tật ở bệnh nhân truyền máu lần đầu tại Bệnh viện Thống Nhất. KHC là chế phẩm chủ yếu sử dụng trong các nhóm bệnh thiếu máu, xuất huyết tiêu hóa và ung bướu. Sự phân bố sử dụng các loại chế phẩm máu phản ánh đặc điểm bệnh lý của từng nhóm và là cơ sở quan trọng trong việc xây dựng kế hoạch dự trù, sử dụng máu hợp lý và hiệu quả trong bệnh viện.

Abstract:

Blood transfusion plays a crucial role in the treatment of various acute and chronic conditions, especially in elderly patients with comorbidities requiring transfusion interventions. Understanding the correlation between the demand for blood products and the disease patterns can help hospitals proactively develop plans for blood storage and distribution, optimizing treatment and minimizing the risks of shortages or delays.: To determine the correlation between the demand for blood products and the disease patterns in first-time blood transfusion patients at Thong Nhat Hospital in 2023. A retrospective cross-sectional study was conducted, analyzing the types and quantities of blood products from blood transfusion requests for 2,180 patients who underwent their first blood transfusion. The highest proportion of patients were diagnosed with anemia (25.83%), followed by gastrointestinal bleeding (19.68%) and cancer (12.52%). Red blood cell concentrates (RBC) were the most commonly used blood products, particularly for anemia (88.45%), gastrointestinal bleeding (93.24%), and cancer (93.04%) patients. Fresh frozen plasma (FFP) was predominantly used in gastrointestinal bleeding patients (4.90%), with a high average quantity (5.29 units per patient). Platelet concentrates (PC) were mainly used in anemia (9.24%) and cancer (5.86%) patients. All results demonstrated statistically significant differences in the demand for blood products based on disease type (p < 0.001). The demand for blood products is closely correlated with the disease patterns in first-time blood transfusion patients at Thong Nhat Hospital. Red blood cell concentrates are the primary blood product used in anemia, gastrointestinal bleeding, and cancer patients. The distribution of blood product usage reflects the disease characteristics of each group and serves as a critical basis for developing blood inventory and transfusion plans to ensure efficient and appropriate blood use in hospitals.

KHẢO SÁT NỒNG ĐỘ PROCALCITONIN Ở NGƯỜI BỆNH SAU PHẪU THUẬT TIM

INVESTIGATION OF PROCALCITONIN LEVELS IN PATIENTS AFTER CARDIAC SURGERY

Danh Bình An, Nguyễn Thị Thảo, Nguyễn Thị Hoàng Phước

Trang 64-69

Lượt tải: 413 Lượt xem: 440

DOI: 10.63947/bvtn.v1i3.8

Người bệnh sau phẫu thuật tim có nồng độ procalcitonin (PCT) huyết thanh tăng cao liên quan đến các biến chứng sau phẫu thuật. Việc sử dụng tuần hoàn ngoài cơ thể liên quan đến sự gia tăng nồng độ PCT trong vòng 24 giờ đầu sau phẫu thuật tim. Mục tiêu chúng tôi tiến hành nghiên cứu khảo sát nồng độ procalcitonin huyết thanh ở người bệnh sau phẫu thuật tim. Cắt ngang phân tích 52 NB phẫu thuật tim chương trình thỏa tiêu chuẩn đưa vào nghiên cứu. Giá trị trung vị nồng độ PCT huyết thanh: 3.2 pg/ml. Giá trị cao nhất là 175 pg/ml, thấp nhất là 0.03 pg/ml. Nồng độ procalcitonin huyết thanh giữa nhóm người bệnh phẫu thuật tim có và không sử dụng tuần hoàn ngoài cơ thể lần lượt là 20.7 (KTC 95%: 9.5-31.8) và 2.8 (0.03-5.7), p=0,15. Diện tích dưới đường cong AUC= 0.42 có ý nghĩa không tốt khi dựa vào PCT huyết thanh để chẩn đoán nhiễm trùng. Nồng độ procalcitonin huyết thanh tăng cao ở người bệnh sau phẫu thuật tim. Một giá trị PCT tăng chưa đủ bằng chứng chẩn đoán nhiễm trùng để đưa ra quyết định lâm sàng.

Abstract:

Cardiac surgery patients with elevated serum procalcitonin (PCT) levels are associated with postoperative complications. The use of extracorporeal circulation is linked to an increase in PCT levels within the first 24 hours after cardiac surgery. We conducted this study with the aim of investigating serum procalcitonin levels in patients after cardiac surgery. A cross-sectional, 52 cardiac surgery patients meeting the inclusion criteria for the study. The median serum PCT level was 3.2 pg/ml. The highest value was 175 pg/ml, and the lowest was 0.03 pg/ml. Serum procalcitonin levels between the group of cardiac surgery patients with and without the use of extracorporeal circulation were 20.7 (95% CI: 9.5-31.8) and 2.8 (0.03-5.7), respectively, p=0.15. The area under the ROC curve (AUC) of 0.42 indicates poor significance when relying on serum PCT to diagnose infection. Serum procalcitonin levels are elevated in patients after cardiac surgery. An elevated PCT value alone is not sufficient evidence to diagnose infection for clinical decision-making.

KHẢO SÁT RỐI LOẠN ĐÔNG MÁU Ở NGƯỜI BỆNH NHIỄM KHUẨN HUYẾT THEO THANG ĐIỂM SIC

SURVEY ON COAGULATION DISORDERS IN PATIENTS WITH SEPSIS ACCORDING TO THE SIC SCORE

Nguyễn Thị Thanh Loan, Nguyễn Đức Công, Nguyễn Quang Đẳng, Suzanne Monivong Cheanh Beaupha

Trang 107-112

Lượt tải: 413 Lượt xem: 638

DOI: 10.63947/bvtn.v1i2.15

Xác định tỷ lệ rối loạn đông máu ở người bệnh nhiễm khuẩn huyết, các chỉ số lâm sàng theo SOFA và các chỉ số xét nghiệm theo thang điểm SIC tại bệnh viện Thống Nhất. Khảo sát mối tương quan giữa thang điểm SIC với đông máu nội mạch lan toả. Nghiên cứu mô tả, cắt ngang trên người bệnh NKH từ đủ 18 tuổi tại bệnh viện Thống Nhất theo tiêu chuẩn Sepsis-3 từ tháng 11/2023 đến tháng 7/2024 tại bệnh viện Thống Nhất.Trong 106 người bệnh nhiễm khuẩn huyết, nam chiếm 69 ca (65,1%), tuổi trung bình 69,9± 17,1 tuổi, người bệnh tăng huyết áp (41,5%) và đái tháo đường (26,4%) chiếm đa số, với ngõ vào nhiễm khuẩn chủ yếu từ hô hấp (44,3%) và tiêu hoá (21,7%). Điểm số SOFA và SOFA (SIC score) có trung vị lần lượt là 5 (3 – 7); 3 (2 – 5). Người bệnh có suy đa cơ quan chiếm 54,7%. Tỷ lệ rối loạn đông máu ở người bệnh nhiễm khuẩn huyết theo thang điểm SIC là 49,1%. Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ rối loạn đông máu giữa hai nhóm suy đa cơ quan, giảm tiểu cầu < 150 G/L; INR > 1,2; aPTT > 37s; D-Dimer > 500ng/ml, bilirubin TP > 21µmol/L; Hb< 10.5g/dL (p < 0,05). Có mối tương quan thuận với r=0,6 giữa thang điểm SIC với thang điểm Overt-DIC có ý nghĩa với p < 0,05. Đa số bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết cao tuổi, có bệnh đồng mắc. Tỷ lệ rối loạn đông máu do nhiễm khuẩn huyết theo thang điểm SIC cao. Có mối liên quan với các chỉ số cận lâm sàng như giảm tiểu cầu; INR, aPTT, D-Dimer, bilirubin TP, Hb. Mối tương quan thuận rất chặt chẽ với thang điểm DIC.

Abstract:

To determine the prevalence of coagulopathy in sepsis patients, clinical indicators according to the SOFA score, and laboratory indicators based on the SIC score at Thong Nhat Hospital. To investigate the correlation between the SIC score and disseminated intravascular coagulation (DIC). A cross-sectional descriptive study of sepsis patients aged 18 and older at Thong Nhat Hospital based on the Sepsis-3 criteria from November 2023 to July 2024. Among 106 sepsis patients, 69 (65.1%) were male, with an average age of 69.9 ± 17.1 years. The majority had hypertension (41.5%) and diabetes (26.4%), with infection sources primarily from the respiratory system (44.3%) and gastrointestinal tract (21.7%). The median SOFA score and SOFA (SIC score) were 5 (3 – 7) and 3 (2 – 5), respectively. Multiorgan dysfunction syndrome (MODS) was present in 54.7% of patients. The prevalence of coagulopathy in sepsis patients according to the SIC score was 49.1%. There was a statistically significant difference in the rate of coagulopathy between the multiorgan dysfunction syndrome group, those with thrombocytopenia < 150 G/L; INR > 1.2; aPTT > 37s; D-Dimer > 500ng/ml; total bilirubin > 21µmol/L; Hb < 10.5g/dL (p < 0.05). A positive correlation of r = 0.6 was found between the SIC score and the Overt-DIC score, significant with p < 0.05. Most sepsis patients are elderly with comorbidities. The rate of coagulopathy due to sepsis according to the SIC score is high and correlates with laboratory indicators such as thrombocytopenia, INR, aPTT, D-Dimer, total bilirubin, and Hb. There is a strong positive correlation with the DIC score.

KHẢO SÁT SỰ TUÂN THỦ GÓI 1 GIỜ TRONG CHĂM SÓC BỆNH NHÂN NHIỄM KHUẨN HUYẾT VÀ SỐC NHIỄM KHUẨN TẠI BỆNH VIỆN THỐNG NHẤT

SURVEY 1-HOUR BUNDLE COMPLIANCE IN CARE OF SEPSIS AND SEPTIC SHOCK PATIENTS  AT THONG NHAT HOSPITAL

Lê Công Thuyên, Nguyễn Tấn Đạt, Nguyễn Đức Tới

Trang 70-76

Lượt tải: 367 Lượt xem: 942

DOI: 10.63947/bvtn.v1i3.9

Khảo sát và đánh giá tỷ lệ tuân thủ gói 1 giờ trong chăm sóc bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết và sốc nhiễm khuẩn tại Bệnh viện Thống Nhất. Đánh giá mối liên quan giữa việc tuân thủ gói 1 giờ và kết cục của bệnh nhân. Nghiên cứu hồi cứu trên 55 bệnh nhân nhập khoa cấp cứu Bệnh viện Thống Nhất từ 01/2024 đến 07/2024. Bệnh nhân được lựa chọn dựa trên tiêu chuẩn chẩn đoán nhiễm khuẩn huyết theo Sepsis-3 và chưa được điều trị trước đó. Đánh giá tuân thủ gói 1 giờ bao gồm các yếu tố: cấy máu, khởi đầu kháng sinh, bù dịch, đo lactate máu và sử dụng vận mạch khi có chỉ định. Trong 55 bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu, nam chiếm 50,1%; nữ chiếm 49,1% với độ tuổi trung bình là 79 ± 18,35. Tại khoa cấp cứu có 43/55 (78,2%) trường hợp nhiễm khuẩn huyết, 12/55 (21,8%) trường hợp sốc nhiễm khuẩn.Tiền căn tăng huyết áp chiếm đa số (65,5%) với tiêu điểm nhiễm trùng thường gặp nhất là đường hô hấp (54,5%), tiết niệu (30,9%) trong đó 14 trường hợp có từ 2 ổ nhiễm trùng trở lên. Về việc tuân thủ gói một giờ trong chăm sóc bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết và sốc nhiễm khuẩn, có 35/55 (63,6%) hoàn thành gói một giờ và 25,4% không hoàn thành. Việc tuân thủ gói một giờ qua những phân tích ban đầu cho thấy cải thiện tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết và sốc nhiễm khuẩn với OR = 5,07 (p < 0,05). Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ tuân thủ gói một giờ đã có cái thiện theo thời gian, càng ngày càng được áp dụng một cách nghiêm ngặt trong lâm sàng. Nghiên cứu cũng cho thấy hiệu quả và tầm quan trọng của việc tuân thủ gói một giờ trong cải thiện tỷ lệ sống còn của bệnh nhân.

Abstract:

Survey compliance with the 1-hour sepsis bundle in patients with sepsis and septic shock at Thong Nhat hospital and analyze the relation between compliance with the 1-hour bundle and patient’s outcomes. A retrospective study was conducted on 55 patients admitted to the Emergency Department of Thong Nhat Hospital from January 2024 to July 2024. Patients were selected based on the diagnostic criteria for sepsis in Sepsis-3 definition with no prior treatment. Compliance with the 1-hour sepsis bundle was assessed, including blood culture collection, initiation of antibiotics, fluid resuscitation, lactate measurement, and vasopressor administration when needed. In 55 patients included in the study, male accounted for 50.1%; proportion of female was 49.1% with mean age was 79 ± 18.35. According ro the diagnosis of emergency doctors, there were 43/55 (78.2%) cases of sepsis and 12/55 (21.8%) cases of septic shock. The history of hypertension was the majority (65.5%) with the most common focus of infection being the respiratory tract (54.5%), urinary tract (30.9%), of which 14 cases had 2 or more foci of infection. Regarding compliance with the one-hour bundle in the care of patients with sepsis and septic shock, 35/55 (63.6%) completed the one-hour package and 25.4% did not complete it. Adherence to the one-hour bundle in primary analyses showed improved mortality in patients with sepsis and septic shock with OR = 5.07 (p < 0.05). Our study showed that proportion of one-hour bundle compliance had improved over time, with increasing clinical application. It also demonstrated the effectiveness and importance of adherence to the one-hour bundle in improving sepsis and septic shock patient survival.

KHẢO SÁT SỰ TƯƠNG QUAN CỦA TRIGLYCERIDE VÀ CÁC CHỈ SỐ LIPASE, CRP, BẠCH CẦU Ở BỆNH NHÂN VIÊM TỤY CẤP NHẬP VIỆN TẠI BỆNH VIỆN THỐNG NHẤT

SURVEY ON THE CORRELATION OF TRIGLYCERIDE AND LIPASE, CRP, LEUKOCYTE INDICATORS IN PATIENTS WITH ACUTE PANCREATITIS HOSPITALIZED AT THONG NHAT HOSPITAL

Cao Thị Vân, Đỗ Thị Phương, Hồ Thị Ngọc Hạnh, Lê Thị Kim Cương, Võ Trung Đình, Nguyễn Hữu Nghị

Trang 88-93

Lượt tải: 303 Lượt xem: 341

DOI: 10.63947/bvtn.v1i2.12

Khảo sát sự tương quan của nồng độ triglyceride, lipase, CRP, bạch cầu trên bệnh nhân viêm tụy cấp (VTC) tại thời điểm nhập viện nhập viện. Nghiên cứu cắt ngang có phân tích 222 bệnh nhân nhập viện từ tháng 01/2023 đến tháng 03/2025 tại Bệnh viện Thống nhất. Kết quả của các chỉ số nghiên cứu được thu thập vào thời điểm nhập viện. Nhóm VTC có tăng Triglyceride chiếm 68%, trong đó nhóm triglyceride tăng trung bình chiếm 30%, nhóm triglyceride tăng nặng và rất nặng chiếm 28%. Nồng độ các chỉ số nghiên cứu có sự phân tán rộng. Có sự tương quan nghịch, yếu giữa nồng độ lipase - triglyceride, lipase - CRP với p = 0,000. Không có sự tương quan giữa lipase với bạch cầu và bạch cầu với triglyceride tại thời điểm nhập viện. Bệnh nhân VTC tại thời điểm nhập viện có tăng triglyceride mức độ nặng và rất nặng chiếm tới 28% trong tổng số bệnh nhân VTC nhập viện điều trị. Nồng độ Lipase ở bệnh nhân VTC tại thời điểm nhập viện có tương quan nghịch, yếu với triglyceride và CRP.

Abstract:

To investigate the correlation between triglyceride, lipase, C-reactive protein (CRP), and white blood cell (WBC) levels in patients with acute pancreatitis (AP) upon hospital admission. A cross-sectional analytical study was conducted involving 222 patients admitted to Thong Nhat Hospital between January 2023 and March 2025. Data on triglyceride, lipase, CRP, WBC levels were collected at the time of admission. Among AP patients, 68% had elevated triglyceride levels. Specifically, 30% had moderately elevated triglycerides, while 28% had severely or very severely elevated levels. The distribution of study indicators was wide. A weak negative correlation was found between lipase - triglyceride levels, and between lipase and CRP levels (p < 0,001). No significant correlation was observed between lipase and WBC levels, or between WBC and triglyceride levels at the time of admission. At the time of admission, 28% of AP patients had severe or very severe hypertriglyceridemia. Lipase levels showed a weak negative correlation with triglyceride and CRP levels. These findings suggest that triglyceride levels may be a useful marker for assessing the severity of AP.

KHẢO SÁT TÌNH HÌNH BỆNH UNG THƯ TẠI KHOA NỘI A1, BỆNH VIỆN THỐNG NHẤT  GIAI ĐOẠN 2019 – 2023

SURVEY ON THE SITUATION OF CANCER AT INTERNAL MEDICINE DEPARTMENT A1, THONG NHAT HOSPITAL IN THE PERIOD OF 2019 – 2023

Lê Thị Mai Hương, Lâm Thị Hiền, Trương Văn Trị, Lưu Thanh Bình

Trang 119-123

Lượt tải: 386 Lượt xem: 318

DOI: 10.63947/bvtn.v1i2.17

Khảo sát tỷ lệ các loại ung thư, giai đoạn bệnh, và phương pháp điều trị tại Khoa Nội A1, Bệnh viện Thống Nhất trong giai đoạn 2019-2023; đánh giá kết quả điều trị ban đầu bệnh ung thư. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 192 BN ung thư nhập viện điều trị nội trú và ngoại trú tại Khoa Nội A1 từ tháng 1/2019 đến 12/2023. Ung thư tiền liệt tuyến (29,2%) và đại trực tràng (22,4%) là hai loại phổ biến nhất. Trong điều trị, 68,2% BN được áp dụng từ hai phương pháp trở lên, với phẫu thuật và hóa trị là các phương pháp phổ biến nhất. Tỷ lệ BN điều trị muộn (giai đoạn III-IV) thấp (11,5%), với 52,6% BN ổn định sau điều trị và tỷ lệ tử vong 20,8%. Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc cao nhất ở ung thư tiền liệt tuyến và đại trực tràng. Điều trị đa mô thức góp phần quan trọng trong ổn định bệnh, với tỷ lệ điều trị muộn thấp và kết quả điều trị khả quan.

Abstract:

To survey the prevalence of cancer types, disease stages, and treatment methods in Department A1, Thong Nhat Hospital, from 2019 to 2023, and to evaluate initial cancer treatment outcomes. A cross-sectional descriptive study was conducted on 192 cancer patients admitted for inpatient and outpatient treatment in Department A1 from January 2019 to December 2023. Prostate cancer (29.2%) and colorectal cancer (22.4%) were the most common types. In terms of treatment, 68.2% of patients received two or more treatment modalities, with surgery and chemotherapy being the most frequently applied methods. The proportion of patients receiving late treatment (stage III-IV) was low (11.5%), with 52.6% of patients stable after treatment and a mortality rate of 20.8%. The study highlights the highest prevalence in prostate and colorectal cancer. Multimodal treatment plays a crucial role in stabilizing patients, with a low rate of late treatment and positive treatment outcomes.

KHẢO SÁT TỶ LỆ ALBUMIN NIỆU Ở BỆNH NHÂN TĂNG HUYẾT ÁP VÀ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2

SURVEY OF URINARY ALBUMIN RATE IN PATIENTS WITH HYPERTENSION AND TYPE 2 DIABETES

Trần Thiện Đức, Nguyễn Văn Bé Hai, Dương Thị Trang, Nguyễn Thị Phương Dung, Nguyễn Thuỳ Dung

Trang 104-109

Lượt tải: 486 Lượt xem: 728

DOI: 10.63947/bvtn.v1i3.15

Albumin niệu là một chỉ dấu quan trọng giúp phát hiện sớm tổn thương thận và nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân đái tháo đường và tăng huyết áp, ngay cả khi mức lọc cầu thận (eGFR) vẫn được bảo tồn. Tuy nhiên, dữ liệu về tỷ lệ hiện mắc albumin niệu trong dân số Việt Nam còn hạn chế. Đánh giá tỷ lệ hiện mắc albumin niệu và các yếu tố lâm sàng liên quan ở bệnh nhân mắc đái tháo đường type 2 và/hoặc tăng huyết áp có eGFR ≥60 mL/phút/1,73m². Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 209 bệnh nhân tại Bệnh viện Thống Nhất, Thành phố Hồ Chí Minh. Các đặc điểm lâm sàng, tình trạng kiểm soát huyết áp, và dữ liệu xét nghiệm bao gồm tỷ lệ albumin/creatinin nước tiểu (UACR) được thu thập. Albumin niệu được định nghĩa là UACR ≥30 mg/g, gồm microalbumin niệu (30–299 mg/g) và macroalbumin niệu (≥300 mg/g). Phân tích hồi quy logistic được sử dụng để xác định các yếu tố liên quan với albumin niệu. Tuổi trung bình của bệnh nhân là 68,04 ± 13,94 tuổi, trong đó 38,8% mắc đái tháo đường type 2. Tỷ lệ albumin niệu chung là 27,7%, bao gồm 16,7% albumin niệu vi thể và 11,0% albumin niệu đại thể. Có 58,7% bệnh nhân được kiểm soát huyết áp. Chỉ 42,5% bệnh nhân đái tháo đường đạt được mục tiêu kiểm soát đường huyết. Albumin niệu đại thể phổ biến hơn đáng kể ở nhóm không kiểm soát huyết áp (18,6% so với 5,7%, p < 0,01). Không ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa albumin niệu và tuổi, giới, thừa cân/béo phì hoặc bệnh tim mạch xơ vữa. Albumin niệu phổ biến ở bệnh nhân đái tháo đường và tăng huyết áp, đặc biệt ở nhóm kiểm soát huyết áp kém. Kết quả này cho thấy cần thiết xét nghiệm albumin niệu định kỳ và điều trị sớm bằng các thuốc thận để ngăn ngừa biến chứng ở nhóm bệnh nhân nguy cơ cao tại Việt Nam.

Abstract:

Albuminuria is a key marker for early kidney damage and cardiovascular risk in patients with diabetes and hypertension, even when glomerular filtration rate (GFR) is preserved. However, data on the prevalence of albuminuria in Vietnamese populations remains limited. To assess the prevalence of albuminuria and its associated clinical factors in patients with type 2 diabetes and/or hypertension. This cross-sectional study included 209 patients at Thong Nhat Hospital, Ho Chi Minh City. Clinical characteristics, blood pressure control, and laboratory data including urinary albumin-to-creatinine ratio (UACR) were collected. Albuminuria was defined as UACR ≥30 mg/g, including microalbuminuria (30–299 mg/g) and macroalbuminuria (≥300 mg/g). Logistic regression was used to identify factors associated with albuminuria. The mean age was 68.04 ± 13.94 years, and 38.8% had type 2 diabetes. Overall, 27.7% of patients had albuminuria, including 16.7% with microalbuminuria and 11.0% with macroalbuminuria. Blood pressure was controlled in 58.7% of participants. Only 42.5% of diabetic patients achieved glycemic targets. Macroalbuminuria was significantly more common in patients with uncontrolled blood pressure (18.6% vs. 5.7%, p < 0.01). No significant associations were found between albuminuria and age, sex, or ASCVD. Albuminuria is prevalent in patients with diabetes and hypertension, particularly among those with uncontrolled blood pressure. These findings support routine screening for albuminuria and early initiation of renoprotective therapy to prevent renal and cardiovascular complications in high-risk Vietnamese populations.

KHẢO SÁT VIỆC ĐIỀU TRỊ VIÊM PHỔI MẮC PHẢI CỘNG ĐỒNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA KHU VỰC HÓC MÔN

INVESTIGATION OF THE TREATMENT OF COMMUNITY ACQUIRED PNEUMONIA AT HOC MON REGIONAL GENERAL HOSPITAL

Huỳnh Hoàng Hậu, Bùi Thị Hương Quỳnh

Trang 62-71

Lượt tải: 276 Lượt xem: 306

DOI: 10.63947/bvtn.v2i6.10

Việc điều trị viêm phổi mắc phải cộng đồng (VPMPCĐ) ngày càng khó khăn do sự gia tăng đề kháng kháng sinh của vi khuẩn. Sử dụng kháng sinh hợp lý là vấn đề quan trọng quyết định hiệu quả điều trị cho bệnh nhân VPMPCĐ. Khảo sát tình hình đề kháng và việc sử dụng kháng sinh trong điều trị viêm phổi mắc phải cộng đồng tại Bệnh viện Đa khoa Khu vực Hóc Môn. Nghiên cứu cắt ngang mô tả trên 270 hồ sơ bệnh án của bệnh nhân nội trú có chẩn đoán VPMPCĐ từ tháng 7/2024 đến hết tháng 9/2024. Tuổi trung vị của bệnh nhân nghiên cứu là 69 (59–77), phần lớn bệnh nhân trên 65 tuổi (65,2%). Vi khuẩn Gram âm chiếm 93,2%, phổ biến là Klebsiella pneumoniae (24,1%), Pseudomonas aeruginosa (15,5%). Klebsiella pneumoniae có tỷ lệ nhạy cảm với nhóm beta-lactam phối hợp với chất ức chế betalactamase từ 70–100%. Pseudomonas aeruginosa có tỷ lệ nhạy cảm khá cao (89–100%). Kháng sinh kinh nghiệm được sử dụng nhiều nhất là ceftriaxon (51,9%) và levofloxacin (40,4%). Tính phù hợp chung của kháng sinh kinh nghiệm là 41,5%. Tuổi cao, điểm Charlson tăng, điểm CURB-65 cao, khoa điều trị ICU là những yếu tố làm tăng thất bại điều trị. Các kháng sinh được khuyến cáo trong điều trị VPMPCĐ vẫn còn nhạy cảm tương đối tốt trên các tác nhân gây bệnh thường gặp tại bệnh viện. Việc tuân thủ hướng dẫn điều trị trong lựa chọn kháng sinh kinh nghiệm chưa cao, từ đó nhấn mạnh cần có các biện pháp can thiệp phù hợp để tăng cường việc sử dụng kháng sinh hợp lý, nâng cao chất lượng điều trị nhiễm khuẩn tại bệnh viện đa khoa khu vực Hóc Môn.

Abstract:

The treatment of community-acquired pneumonia (CAP) has become increasingly challenging due to the growing antimicrobial resistance among bacterial pathogens. Rational antibiotic use is a key determinant of treatment effectiveness in patients with CAP. To investigate antimicrobial resistance patterns and antibiotic utilization in the treatment of communityacquired pneumonia at Hoc Mon Regional General Hospital. A descriptive cross-sectional study was conducted using 270 medical records of hospitalized patients diagnosed with communityacquired pneumonia at Hoc Mon Regional General Hospital from July 2024 to September 2024. The median age of patients was 69 years (interquartile range, 59–77), with 65.2% aged over 65 years. Gram-negative bacteria accounted for 93.2% of isolated pathogens, predominantly Klebsiella pneumoniae (24.1%) and Pseudomonas aeruginosa (15.5%). Klebsiella pneumoniae demonstrated susceptibility rates ranging from 70% to 100% to beta-lactam/beta-lactamase inhibitor combinations. Pseudomonas aeruginosa showed high susceptibility rates (89–100%). The most commonly prescribed empirical antibiotics were ceftriaxone (51.9%) and levofloxacin (40.4%). Overall appropriateness of empirical antibiotic therapy was 41.5%. Older patients, higher Charlson score, higher CURB-65 score, and ICU admission were factors associated with treatment failure. The antibiotics recommended for the treatment of community-acquired pneumonia remain largely effective against common causative pathogens at the hospital. However, adherence to treatment guidelines for empirical antibiotic selection was suboptimal, underscoring the need for targeted interventions to promote rational antibiotic use and improve the quality of infection management.

KIẾN THỨC NGỪA THAI SAU SINH CỦA SẢN PHỤ TẠI KHOA PHỤ SẢN, BỆNH VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN

KNOWLEDGE OF POSTPARTUM CONTRACEPTION AMONG MOTHERS AT THE DEPARTMENT OFOBSTETRICS AND GYNECOLOGY, TAY NGUYEN UNIVERSITY HOSPITAL

Nguyễn Thị Kim Quyên, Phan Thị Huyền Trang, Lê Đặng Bảo Doanh

Trang 119-125

Lượt tải: 138 Lượt xem: 300

DOI: 10.63947/bvtn.v2i8.17

Giai đoạn 6 tuần sau sinh có ý nghĩa sống còn đối với sức khỏe của cả mẹ và bé, trong đó Việc sử dụng biện pháp tránh thai trong 6 tuần sau sinh là yếu tố then chốt để bảo vệ sức khỏe mẹ và bé, dù nhu cầu tư vấn thực tế vẫn chưa được đáp ứng đầy đủ. Do đó, nghiên cứu này nhằm xác định tỷ lệ kiến thức đúng và các yếu tố liên quan về ngừa thai sau sinh của sản phụ tại Bệnh viện Trường Đại học Tây Nguyên năm 2025. Nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện trên 153 sản phụ có con khỏe mạnh tại Khoa Phụ sản, Bệnh viện Trường Đại học Tây Nguyên từ tháng 3/2025 đến tháng 6/2025. 13,7% SP có kiến thức đạt về ngừa thai sau sinh; Qua phân tích hồi quy Logistic đơn biến cho thấy các yếu tố liên quan độc lập có ý nghĩa thống kê đến tỷ lệ kiến thức đạt về ngừa thai sau sinh của SP là tuổi; nơi sống, nghề nghiệp; và số con (p<0,05). Kiến thức về ngừa thai sau sinh của sản phụ còn thấp và có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa kiến thức với tuổi; nơi sống, nghề nghiệp; và số con.

Abstract:

Postpartum contraception is vital for maternal and child health, yet counseling remains insufficient to meet actual needs. This study aims to determine the prevalence of correct knowledge and its associated factors among postpartum women at Tay Nguyen University Hospital in 2025. A cross-sectional study was conducted on 153 postpartum women with healthy infants at the Obstetrics Department of Tay Nguyen University Hospital from March to June 2025. The survey revealed that 13.7% of postpartum women possessed correct knowledge regarding contraception. Univariate logistic regression analysis identified several independent factors significantly associated with adequate knowledge levels, including age, residence, occupation, and parity (p < 0.05). Postpartum contraceptive knowledge among mothers remains low, with statistically significant differences observed across age groups, residency, occupations, and parity (p < 0.05).

KIẾN THỨC VỀ VIRUS HPV VÀ BỆNH UNG THƯ CỔ TỬ CUNG CỦA SINH VIÊN KHOA Y DƯỢC, TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN

KNOWLEDGE OF HPV AND CERVICAL CANCER AMONG MEDICAL AND PHARMACEUTICAL STUDENTS AT TAY NGUYEN UNIVERSITY

Đặng Tuyết Ngân, Nguyễn Thị Kim Quyên

Trang 113-118

Lượt tải: 157 Lượt xem: 372

DOI: 10.63947/bvtn.v2i8.16

Human Papillomavirus (HPV) là tác nhân chính gây ung thư cổ tử cung (UTCTC) và các bệnh lý u nhú sinh dục, đặc biệt phổ biến tại các nước đang phát triển. Do đó, việc trang bị kiến thức chuyên sâu về dự phòng bằng vắc-xin cho sinh viên khối ngành Y Dược là yêu cầu cấp thiết nhằm tối ưu hóa hiệu quả tư vấn và chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Do đó, nghiên cứu này nhằm xác định tỉ lệ kiến thức đạt về virus HPV và bệnh ung thư cổ tử cung của sinh viên tại Khoa Y Dược, Trường Đại học Tây Nguyên năm 2025. Nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện trên 210 sinh viên khoa Y dược, Trường Đại học Tây Nguyên từ tháng 3/2025 đến tháng 6/2025. Tỷ lệ sinh viên có kiến thức đạt về virus HPV ở mức cao, chiếm 93,3%. Tuy nhiên, kiến thức về bệnh lý UTCTC còn hạn chế chỉ chiếm 38,6%. Đa số sinh viên có kiến thức tốt về HPV và vắc-xin, nhưng cần cải thiện kiến thức chuyên sâu về bệnh UTCTC và các biện pháp tầm soát sau tiêm.

Abstract:

Human Papillomavirus (HPV) is the primary causative agent of cervical cancer and genital warts, particularly prevalent in developing countries. Therefore, equipping medical and pharmaceutical students with in-depth knowledge of vaccine prevention is an urgent requirement to optimize the effectiveness of health counseling and community care. This study aimed to determine the rate of adequate knowledge regarding HPV and cervical cancer among students at the Faculty of Medicine and Pharmacy, Tay Nguyen University, in 2025. A cross-sectional descriptive study was conducted on 210 medical and pharmaceutical students at Tay Nguyen University from March 2025 to June 2025. The proportion of students with adequate knowledge of HPV was high, accounting for 93.3%. However, knowledge regarding cervical cancer pathology remained limited, with only 38.6% of participants achieving an adequate level. While the majority of students demonstrated good knowledge of HPV and its vaccine, there is a significant need to improve specialized knowledge concerning cervical cancer and post-vaccination screening measures.

To assess patients’ average level of knowledge regarding coronary artery disease and its associated factors at Tra Vinh Provincial General Hospital in the year 2024. A descriptive cross-sectional study was conducted on 128 patients diagnosed with coronary artery disease who came for examination and surgical treatment at the Cardiology Clinic at Tra Vinh Provincial General Hospital from May 2024 to July 2024 using the CADE-Q SV questionnaire. Our research results showed that 76.6% of patients had average knowledge and 23.7% of patients had poor knowledge; no patients had good knowledge; the rate of patients answering correctly for all questions was 45.04%; there was no correlation found between the knowledge of patients with coronary artery disease at Tra Vinh General Hospital and the factors surveyed at the time of the survey. Our research results showed that the knowledge of patients with coronary artery disease at Tra Vinh General Hospital in this study was still low, and there was no factors related to the rate of patients’ knowledge about coronary artery disease have been found.

 

LEFT VENTRICULAR NONCOMPACTION CARDIOMYOPATHY WITH TRIPLE TTN VARIANTS MASQUERADING AS ARRHYTHMIA-INDUCED CARDIOMYOPATHY: A CASE REPORT

Lâm Thành Vĩ, Ngo Long Van, Tran Nguyen Thao Nhi, Nguyen Thanh Huan

Trang 126-132

Lượt tải: 415 Lượt xem: 326

DOI: 10.63947/bvtn.v1i5.20

Left ventricular noncompaction cardiomyopathy (LVNC) can lead to ventricular arrhythmias and may be misdiagnosed as arrhythmia-induced cardiomyopathy (AiCM). While LVNC is associated with genetic abnormalities, AiCM is triggered by arrhythmias and is typically reversible once the arrhythmia is eliminated. We report the case of a 59-year-old woman with LVNC carrying three TTN gene variants: c.100804A>T (p.Met33602Leu, exon 358), c.59200C>G (p.Pro19734Ala, exon 300), and c.52052T>C (p.Val17351Ala, exon 273). The patient was initially diagnosed with AiCM but showed no recovery of left ventricular function after successful catheter ablation of ventricular arrhythmias. Echocardiography and cardiac magnetic resonance imaging confirmed the LVNC phenotype. This case highlights the importance of distinguishing between these two entities in clinical practice.

LIỀU XE ĐẠP TĨNH TRONG GIẢM ĐAU THOÁI HÓA KHỚP GỐI Ở NGƯỜI CAO TUỔI

STATIONARY CYCLING DOSAGE FOR PAIN REDUCTION IN OLDER ADULTS WITH KNEE OSTEOARTHRITIS: A SYSTEMATIC REVIEW

Trần Bình Minh, Trương Quốc Tân

Trang 53-61

Lượt tải: 197 Lượt xem: 294

DOI: 10.63947/bvtn.v2i6.9

Tổng quan hệ thống nhằm xác định liều can thiệp có hiệu quả giảm đau và phù hợp nhóm đối tượng thoái hóa khớp gối từ 60 tuổi trở lên với can thiệp xe đạp tĩnh. Tổng quan theo hướng dẫn PRISMA 2020, tìm kiếm trên PubMed, Cochrane Library và PEDro các thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng, báo cáo rõ liều can thiệp. Kết quả chính là giảm đau, đánh giá bằng các thang điểm như KOOS, WOMAC và AIMS2. Năm nghiên cứu với tổng cộng 377 bệnh nhân được đưa vào phân tích. Cả 5 nghiên cứu ghi nhận giảm đau có ý nghĩa thống kê so với ban đầu hoặc nhóm đối chứng. Liều can thiệp được tổng hợp bao gồm tổng thời gian 8–24 tuần, tần suất 3–7 buổi mỗi tuần, thời gian mỗi buổi 25–60 phút, với cường độ từ 40–85% tần số tim tối đa hoặc 60–110 vòng bàn đạp mỗi phút. Không ghi nhận biến cố bất lợi liên quan đến can thiệp. Tuy nhiên, toàn bộ các nghiên cứu đều có nguy cơ cao sai lệch, chủ yếu do không thể làm mù người tham gia và sử dụng các thang điểm tự báo cáo. Xe đạp tĩnh là một can thiệp có hiệu quả trong giảm đau cho người cao tuổi với thoái hóa khớp gối, nhưng việc áp dụng liều luyện tập cần được diễn giải thận trọng và cá thể hóa.

Abstract:

This systematic review aimed to identify an effective stationary cycling dosage for pain reduction in adults aged 60 years and older with knee osteoarthritis. The review was conducted according to PRISMA 2020 guidelines, searching PubMed, the Cochrane Library, and PEDro for randomized controlled trials reporting the dosage of stationary cycling interventions. The primary outcome was pain reduction, assessed using standardized scales such as KOOS, WOMAC, and AIMS2. Five studies involving 377 participants were included in the analysis. All 5 studies reported statistically significant pain reduction compared with baseline or control groups. The synthesized intervention dosage comprised a total duration of 8–24 weeks, a frequency of 3–7 sessions per week, a session length of 25–60 minutes, and an intensity ranging from 40–85% of maximum heart rate or 60–110 pedal revolutions per minute. No adverse events relating to the interventions were reported. However, all included studies were judged to be at high risk of bias, primarily due to the inability to blind participants and the use of self-reported scales. Stationary cycling is an effective intervention for pain reduction in older adults with knee osteoarthritis, but the application of training dose should be interpreted cautiously and individualized.

LOÃNG XƯƠNG Ở NGƯỜI CAO TUỔI MẮC BỆNH THẬN MẠN: TỶ LỆ VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG

OSTEOPOROSIS IN ELDERLY PATIENTS WITH CHRONIC KIDNEY DISEASE: PREVALENCE AND ASSOCIATED FACTORS

Nguyễn Minh Quân, Võ Tam

Trang 47-53

Lượt tải: 385 Lượt xem: 608

DOI: 10.63947/bvtn.v1i3.5

Loãng xương là một biến chứng thường gặp ở bệnh nhân cao tuổi mắc bệnh thậnmạn (BTM), đặc biệt tại các vị trí dễ gãy xương như cổ xương đùi. Việc tầm soát loãng xương ở nhóm đối tượng này vẫn chưa được chú trọng đầy đủ trong thực hành lâm sàng, đặc biệt tại Việt Nam. Nghiên cứu nhằm xác định tỷ lệ loãng xương và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân ≥70 tuổi mắc BTM.Nghiên cứu cắt ngang trên 76 bệnh nhân ≥70 tuổi mắc BTM giai đoạn 3–5 (47 bệnh nhân chưa lọc máu, 29 bệnh nhân lọc máu chu kỳ) tại Bệnh viện Thống Nhất từ 9/2022-6/2024. Bệnh nhân được thu thập dữ liệu lâm sàng, cận lâm sàng và đo mật độ xương (MĐX) tại 3 vị trí: cột sống thắt lưng (CSTL), toàn bộ xương đùi (TBXĐ), và cổ xương đùi (CXĐ). Hồi quy logistic xác định yếu tố dự đoán loãng xương, đánh giá độ chính xác qua AUC. Tỷ lệ loãng xương chung là 43,4%, cao nhất tại CXĐ (40,8%). MĐX  trung bình tại CXĐ (0,559 ± 0,147 g/cm²) thấp hơn đáng kể so với TBXĐ (0,713 ± 0,168) và CSTL (0,901 ± 0,209; p < 0,001). Các yếu tố bảo vệ độc lập gồm giới tính nam (OR = 0,082; p < 0,001) và BMI cao (OR = 0,670; p = 0,004). Lọc máu chu kỳ là yếu tố nguy cơ độc lập (OR = 4,368; p = 0,027). Mô hình dự báo ba biến này đạt AUC = 0,89. Bệnh nhân ≥70 tuổi mắc BTM, đặc biệt nữ giới, có BMI thấp và đang lọc máu chu kỳ, có nguy cơ loãng xương cao, nhất là tại cổ xương đùi. Đo MĐX nên được đưa vào tầm soát thường quy để can thiệp sớm.

Abstract:

Osteoporosis is a common complication in elderly patients with chronic kidney disease (CKD), particularly at fracture-prone sites such as the femoral neck. However, osteoporosis screening in this population remains insufficient in routine clinical practice, especially in Vietnam. This study aimed to determine the prevalence of osteoporosis and its associated factors in patients aged ≥70 years with CKD. A cross-sectional study was conducted on 76 patients aged ≥70 years with stage 3–5 CKD (including 47 predialysis and 29 maintenance hemodialysis patients) at Thong Nhat Hospital from September 2022 to June 2024. Clinical and laboratory data were collected, and bone mineral density (BMD) was measured using DXA at three sites: lumbar spine (LS), total hip (TH), and femoral neck (FN). Logistic regression was used to identify predictors of osteoporosis, with model accuracy evaluated by AUC. The overall prevalence of osteoporosis was 43.4%, highest at the femoral neck (40.8%). Mean BMD at the femoral neck (0.559 ± 0.147 g/cm²) was significantly lower than at the total hip (0.713 ± 0.168) and lumbar spine (0.901 ± 0.209; p < 0.001). Independent protective factors included male sex (OR = 0.082; p < 0.001) and higher BMI (OR = 0.670; p = 0.004). Maintenance hemodialysis was identified as an independent risk factor (OR = 4.368; p = 0.027). The predictive model incorporating these three variables achieved good accuracy (AUC = 0.89). Patients aged ≥70 years with CKD—particularly women, those with low BMI, and those on maintenance hemodialysis—are at high risk of osteoporosis, especially at the femoral neck. Routine BMD screening should be implemented for early detection and timely intervention.

MÔ HÌNH BỆNH TẬT NỘI TRÚ VÀ TÌNH HÌNH KHÁM CHỮA BỆNH TẠI BỆNH VIỆN Y HỌC CỔ TRUYỀN PHÚ YÊN TRƯỚC, TRONG VÀ SAU ĐẠI DỊCH COVID-19 NĂM 2020 - 2023

INPATIENT MORBIDITY PATTERNS AND HEALTHCARE ACTIVITIES AT PHU YEN TRADITIONAL MEDICINE HOSPITAL BEFORE, DURING, AND AFTER THE COVID-19 PANDEMIC (2020–2023)

Trần Thị Hoàng Oanh, Trần Hữu Tuấn

Trang 119-125

Lượt tải: 259 Lượt xem: 192

DOI: 10.63947/bvtn.v2i6.18

Đại dịch COVID-19 ảnh hưởng sâu rộng đến mọi mặt trong đời sống con người trên thế giới nói chung và tỉnh Phú Yên (nay là khu vực phía đông tỉnh Đắk Lắk) nói riêng. Nhiều nghiên cứu (NC) ghi nhận số lượt khám, nhập viện và dịch vụ y tế đều giảm rõ rệt trong giai đoạn này. Việc đánh giá sự thay đổi mô hình bệnh tật (MHBT) và hoạt động khám chữa bệnh (KCB) tại Bệnh viện Y học cổ truyền (YHCT) Phú Yên trong giai đoạn 2020-2023 là cần thiết để định hướng cải tiến chất lượng dịch vụ, tăng cường khả năng ứng phó với các tình huống y tế công cộng tương tự trong tương lai. Khảo sát tình hình biến động MHBT nội trú và mô tả tình hình KCB tại Bệnh viện (BV) YHCT Phú Yên từ năm 2020 đến 2023. Đối tượng NC là tất cả hồ sơ bệnh án điều trị nội trú tai BV YHCT Phú Yên từ năm 2020 đến 2023 có chẩn đoán bệnh chính bằng mã ICD10. Phương pháp NC mô tả cắt ngang, hồi cứu. Giai đoạn 2020–2023, bệnh cơ xương khớp và thần kinh chiếm chủ yếu. Năm 2021 ghi nhận thêm ca COVID-19, nhóm <15 tuổi tăng mắc bệnh lây nhiễm (94,6%). Nhân lực ổn định, giường bệnh tăng từ 2022. Giai đoạn dịch, lượt khám giảm, phục hồi rõ vào 2023. Công suất giường thấp nhất năm 2021 (69,7%), cao nhất 2023 (113,8%). MHBT và hoạt động KCB tại BV YHCT Phú Yên thay đổi do COVID-19, giảm mạnh năm 2021 và phục hồi từ 2022.

Abstract:

The COVID-19 pandemic had a widespread impact on all aspects of human life globally, and specifically on Phu Yen Province (now part of eastern Dak Lak Province) in Vietnam. Numerous studies reported significant declines in outpatient visits, hospital admissions, and healthcare service utilization during this period. Evaluating the changes in disease patterns and healthcare service delivery at Phu Yen Traditional Medicine Hospital from 2020 to 2023 is essential for guiding service quality improvements and strengthening preparedness for future public health emergencies. To assess the variation in inpatient disease patterns and describe healthcare service activities at Phu Yen Traditional Medicine Hospital between 2020 and 2023. Study subjects included all inpatient medical records with primary ICD-10 diagnosis codes at Phu Yen Traditional Medicine Hospital from January 1, 2020 to December 31, 2023. Research design: retrospective cross-sectional descriptive study. From 2020 to 2023, musculoskeletal and neurological diseases were the most common. In 2021, COVID-19 cases appeared, with a notable rise in infectious diseases among patients under 15 (94.6%). Clinical staffing remained stable; bed numbers increased from 2022. During the pandemic, patient visits declined but clearly recovered by 2023. Bed occupancy was lowest in 2021 (69.7%) and peaked in 2023 (113.8%). The inpatient disease pattern and hospital service activity at Phu Yen Traditional Medicine Hospital were notably affected by COVID-19, with a sharp decline in 2021 followed by recovery starting in 2022.

NGHIÊN CỨU DỊCH TỄ HỌC TRONG BỆNH VIỆN: NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN LƯU Ý VỀ THIẾT KẾ VÀ DIỄN GIẢI

EPIDEMIOLOGICAL RESEARCH IN HOSPITAL: KEY CONSIDERATIONS FOR DESIGN AND INTERPRETATION

Nguyễn Văn Tuấn

Trang 1-8

Lượt tải: 280 Lượt xem: 293

DOI: 10.63947/bvtn.v2i6.1

Phần lớn các nghiên cứu dịch tễ học và nghiên cứu lâm sàng quan sát tại Việt Nam được thực hiện trên bệnh nhân nhập viện và thường không có nhóm chứng. Mặc dù có tính thực tiễn và thuận lợi về mặt dữ liệu, các nghiên cứu này thường được sử dụng để trả lời những câu hỏi vượt quá khả năng suy luận của thiết kế. Trong bài này tôi phân tích các hạn chế phương pháp của nghiên cứu dịch tễ học dựa trên bệnh nhân trong bệnh viện, đặc biệt trong trường hợp không có nhóm chứng, trong bối cảnh nghiên cứu y học tại Việt Nam. Dựa trên phân tích khái niệm và nguyên lý dịch tễ học, bài viết thảo luận các nguồn sai lệch thường gặp trong nghiên cứu bệnh viện, bao gồm sai lệch chọn mẫu, sai lệch đồng căn (collider bias), thiếu nhóm chứng, và hiện tượng hồi quy về trung bình. Bệnh nhân nhập viện là một quần thể đã qua chọn lọc, chịu ảnh hưởng không chỉ bởi mức độ bệnh mà còn bởi khả năng tiếp cận y tế, tuyến chuyển viện và các yếu tố xã hội. Việc điều kiện hóa phân tích trên nhóm đã nhập viện có thể làm lệch mối liên quan giữa phơi nhiễm và bệnh, tạo ra các mối liên quan giả tạo hoặc làm mờ mối quan hệ nhân quả thực sự. Khi thiếu nhóm chứng, các mối liên quan quan sát dễ bị diễn giải sai như yếu tố nguy cơ ở mức quần thể. Các nghiên cứu trước–sau trong bệnh viện còn dễ bị ảnh hưởng bởi hiện tượng hồi quy về trung bình, dẫn đến đánh giá sai hiệu quả can thiệp. Các mô hình tiên lượng xây dựng từ dữ liệu nội viện có thể vận hành tốt trong bối cảnh huấn luyện nhưng khó khái quát ra ngoài bệnh viện. Nghiên cứu dựa trên bệnh nhân nhập viện vẫn có giá trị quan trọng trong mô tả bệnh nặng, tiên lượng nội viện và đánh giá quy trình chăm sóc. Tuy nhiên, phạm vi suy luận của thiết kế này là có giới hạn. Việc nhận diện rõ các giới hạn phương pháp và gắn chặt diễn giải kết quả với điều kiện chọn mẫu là cần thiết để tránh những kết luận sai lệch và nâng cao chất lượng nghiên cứu y học tại Việt Nam.

Abstract:

Most epidemiological and observational clinical studies in Vietnam are conducted on hospitalized patients, frequently lacking a control group. Despite their practicality and data accessibility, these studies are often utilized to address questions that exceed the inferential capacity of their design. In this article, I analyze the methodological limitations of hospital-based epidemiological research, particularly in the absence of a control group, within the context of medical research in Vietnam. Drawing on conceptual analysis and epidemiological principles, the article discusses common sources of bias in hospital-based studies, including selection bias, collider bias, the lack of control groups, and the regression toward the mean phenomenon. Inpatients represent a highly selected population, influenced not only by disease severity but also by healthcare accessibility, referral pathways, and socio-economic factors. Conditioning the analysis on a hospitalized group can distort the association between exposure and disease, creating spurious correlations or masking true causal relationships. Without a control group, observed associations are easily misinterpreted as population-level risk factors. Furthermore, before-after studies in hospitals are susceptible to regression toward the mean, leading to inaccurate evaluations of intervention efficacy. Prognostic models developed from inpatient data may perform well in training environments but often fail to generalize to broader settings. While hospital-based research remains vital for describing severe illness, inpatient prognosis, and evaluating care processes, its inferential scope is inherently limited. Clearly identifying these methodological boundaries and anchoring interpretations to sampling conditions is essential to avoid biased conclusions and to enhance the quality of medical research in Vietnam.

NGHIÊN CỨU GIÁ TRỊ CỦA THANG ĐIỂM BLATCHFORD TRONG TIÊN LƯỢNG BỆNH NHÂN XUẤT HUYẾT TIÊU HÓA TRÊN KHÔNG DO VỠ GIÃN TĨNH MẠCH THỰC QUẢN NHẬP KHOA CẤP CỨU

EVALUATING THE GLASGOW BLATCHFORD SCORE IN PROGNOSIS PATIENTS WITH ACUTE NONVARICEAL UPPER GASTROINTESTINAL BLEEDING

Lê Hiếu, Ninh Bảo Ngọc, Nguyễn Thị Thúy Hằng, Trần Thị Luận, Lê Bảo Huy

Trang 72-77

Lượt tải: 609 Lượt xem: 935

DOI: 10.63947/bvtn.v1i2.9

Xuất huyết tiêu hóa trên không do vỡ giãn tĩnh mạch thực quản (XHTH không do VGTMTQ) là cấp cứu nội khoa thường gặp, cần phân tầng nguy cơ sớm để cải thiện tiên lượng. Nghiên cứu này nhằm đánh giá giá trị của thang điểm Glasgow-Blatchford (GBS) trong tiên lượng bệnh nhân XHTH không do VGTMTQ. Nghiên cứu được thiết kế tiến cứu, mô tả trên các bệnh nhân được chẩn đoán XHTH không do VGTMTQ nhập khoa Cấp cứu Bệnh viện Thống Nhất từ tháng 01/2020 đến tháng 07/2020. Trong số 122 bệnh nhân (73,0% nam, tuổi trung bình 63), 45,9% cần can thiệp y khoa (CTYK), 5,7% bị tái xuất huyết và 2,5% tử vong. Điểm GBS trung bình là 9. Thang điểm GBS (AUC=0,828) cho thấy giá trị tiên lượng CTYK tốt hơn thang điểm Rockall lâm sàng (AUC=0,650). Với điểm cắt ≥10, GBS có độ nhạy 0,68 và độ đặc hiệu 0,88 trong dự đoán nhu cầu CTYK. Đa số bệnh nhân XHTH không do VGTMTQ là người cao tuổi. Thang điểm GBS là công cụ có giá trị tốt trong việc tiên lượng nhu cầu can thiệp y khoa ở nhóm bệnh nhân này.

NGHIÊN CỨU TỈ LỆ NLR TRÊN BỆNH NHÂN CAO TUỔI BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH TẠI BỆNH VIỆN THỐNG NHẤT

INVESTIGATION OF THE NEUTROPHIL-TO-LYMPHOCYTE RATIO IN ELDERLY PATIENTS WITH CHRONIC OBSTRUCTIVE PULMONARY DISEASE AT THONG NHAT HOSPITAL

Lê Thị Kim Cương, Hồ Thị Ngọc Hạnh, Cao Thị Hoài, Đặng Đình Dần, Ngô Thế Hoàng, Nguyễn Thanh Vy, Nguyễn Thị Kim Tiến, Cao Thị Vân

Trang 130-135

Lượt tải: 461 Lượt xem: 518

DOI: 10.63947/bvtn.v1i2.19

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và tàn tật trên toàn thế giới, đặc biệt ở nhóm bệnh nhân cao tuổi[1]. COPD không chỉ làm giảm chất lượng cuộc sống mà còn là gánh nặng cho hệ thống y tế. Viêm mạn tính đóng vai trò quan trọng trong sinh bệnh học của COPD, các chỉ số tỉ lệ bạch cầu trung tính trên lympho (NLR) ngày càng được quan tâm như một công cụ đánh giá mức độ viêm và tiên lượng bệnh. Tuy nhiên, tại Việt Nam, ở nhóm bệnh nhân cao tuổi việc nghiên cứu vai trò của NLR trong theo dõi và quản lý bệnh COPD vẫn còn hạn chế. Do đó, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu tỉ lệ NLR trên bệnh nhân cao tuổi bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại Bệnh viện Thống Nhất”. Xác định tỷ lệ NLR ở bệnh nhân BPTNMT và đánh giá mối liên hệ của tỷ lệ NLR với mức độ nặng của bệnh BPTNMT. So sánh tỷ lệ NLR giữa các nhóm bệnh nhân BPTNMT theo các yếu tố như tuổi, giới tính, chỉ số BMI, mức độ sử dụng thuốc và tìm mối liên quan với phản ứng viêm CRP. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên bệnh nhân COPD cao tuổi đến khám tại phòng khám hô hấp bệnh viện Thống Nhất. Từ tháng 1/2025- 05/2025 chúng tôi thu thập trên 221 bệnh nhân cao tuổi COPD độ tuổi trung bình 71 (65-77), nam chiếm tỷ lệ cao hơn nữ, NLR trung bình 3,3 (2,2 – 6,2), CRP (mg/L) 4,3 (2,6 - 9,5), NLR tương quan nghịch mức độ yếu với FEV1 (r=- 0,147, p < 0,029), NLR tương quan thuận với CRP  (r=0,5012, p <0,0001). NLR có mối tương quan nghịch yếu nhưng có ý nghĩa thống kê với chức năng hô hấp (FEV1), tương quan thuận chặt chẽ với chỉ số viêm CRP, cho thấy tiềm năng của NLR trong việc đánh giá mức độ nặng và tình trạng viêm của bệnh.

Abstract:

Chronic Obstructive Pulmonary Disease (COPD) is one of the leading causes of mortality and disability worldwide. Among elderly patients, COPD not only reduces quality of life but also places a significant burden on healthcare systems. Chronic inflammation plays a key role in the pathogenesis of COPD. In recent years, peripheral blood inflammatory markers such as the neutrophil-to-lymphocyte ratio (NLR) have gained attention as useful tools for assessing inflammation and predicting disease prognosis. However, in Vietnam, especially among elderly patients- research on the role of NLR in monitoring and managing COPD remains limited. Therefore, we conducted the study titled: “Investigation of Neutrophil-to-Lymphocyte Ratio in Elderly Patients with Chronic Obstructive Pulmonary Disease at Thong Nhat Hospital”. To determine the NLR levels in elderly patients with COPD and evaluate the relationship between NLR and disease severity. Additionally, to compare NLR values across different patient subgroups based on factors such as age, gender, BMI, medication usage, comorbidities, and to investigate the correlation between NLR and the inflammatory marker               CRP. Sectional descriptive study conducted on elderly COPD patients visiting the respiratory outpatient clinic at Thong Nhat Hospital. From January 2025 to May 2025, we collected data from 221 elderly COPD patients. The mean age was 71 (65-77) years, Males accounted for a higher proportion than females. The mean NLR was 3,3 (2,2 – 6,2), CRP (mg/L)  4,3 (2,6 - 9,5), NLR showed a weak but statistically significant negative correlation with FEV1 (r = -0.147, p < 0,029) and a statistically significant positive correlation with CRP (r = 0,5012, p < 0,0001). Our study demonstrates that NLR is weakly but significantly inversely correlated with pulmonary function (FEV1), and positively correlated with CRP levels, indicating its potential role in assessing disease severity and inflammatory status.

NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ SUY TIM CẤP Ở BỆNH NHÂN NHỒI MÁU CƠ TIM CẤP ST CHÊNH LÊN TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA KHU VỰC LONG KHÁNH

STUDY ON SITUATION AND RESULTS OF TREATMENT OF ACUTE HEART FAILURE IN PATIENTS WITH ST-ELEVATION MYOCARDIAL INFARCTION AT LONG KHANH REGIONAL GENERAL HOSPITAL

Võ Chí Trung, Thân Hữu Dũng, Nguyễn Mạnh Hoàng

Trang 107-115

Lượt tải: 301 Lượt xem: 347

DOI: 10.63947/bvtn.v1i4.18

Suy tim sau nhồi máu cơ tim cấp (NMCT) là một biến chứng thường gặp và làm gia tăng tỷ lệ tử vong. Những yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng suy tim và kết quả điều trị bệnh nhân suy tim cấp sau NMCT vẫn chưa được biết rõ. Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm xác định tỷ lệ, các yếu tố liên quan và kết quả điều trị suy tim cấp ở bệnh nhân NMCT cấp ST chênh lên. Nghiên cứu mô tả loạt ca thực hiện trên 110 bệnh nhân NMCT cấp ST chênh lên được can thiệp mạch vành qua da tại bệnh viện đa khoa khu vực Long Khánh từ 06/2023-06/2024. Kết quả ghi nhận suy tim cấp chiếm tỷ lệ 35%. Một số yếu tố liên quan đến suy tim cấp sau NMCT: thời gian nhập viện viện trễ >12 giờ (OR=13,6; KTC 95% 1,8-100,8); bệnh mạch vành (BMV) 2 nhánh (OR=8,87; KTC 95% 1,0002-78,65), BMV 3 nhánh (OR=10,06; KTC 95% 1,11-90,77), bệnh thân chung vành trái (OR=37,4; KTC 95% 1,8-763,2). Kết quả điều trị: thời gian nằm viện 7,9 ± 5,2 ngày; vị trí nhánh mạch vành được can thiệp nhiều nhất là RCA; dòng chảy trước can thiệp hầu hết là TIMI 0, sau can thiệp dòng chảy mạch vành bình thường đạt 86%; biến chứng thường gặp là tụ máu đường vào, sốt, nhiễm trùng; tỷ lệ tử vong nội viện là 7%; thành công về thủ thuật đạt 83,6%. Những kết quả này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nhận sớm các yếu tố tiên lượng dễ dẫn đến tình trạng suy tim cấp sau nhồi máu cơ tim để có thái độ tiếp cận điều trị bệnh tốt hơn.

Abstract:

Heart failure after acute myocardial infarction (MI) is a common complication and increases mortality. The factors influencing heart failure and the treatment outcomes of acute heart failure following acute MI remain unclear. This study aim to determining the prevalence, associated factors, and treatment outcomes of acute heart failure in patients with ST-elevation MI. A case series descriptive study was conducted on 110 patients with ST-elevation MI undergoing percutaneous coronary intervention at Long Khanh Regional General Hospital from June 2023 to June 2024. Results showed the prevalance of acute heart failure is 35%. Factors associated with acute heart failure after MI included: late hospital admission >12 hours (OR = 13.6; 95% CI: 1.8–100.8); double-vessel coronary artery disease (OR = 8.87; 95% CI: 1.0002–78.65), triple-vessel coronary artery disease (OR = 10.06; 95% CI: 1.11–90.77), and left main coronary artery disease (OR = 37.4; 95% CI: 1.8–763.2). Treatment outcomes included average hospital stay of 7.9 ± 5.2 days; the most frequently intervened coronary branch was the RCA; pre-intervention coronary flow was mostly TIMI 0, and post-intervention normal coronary flow was achieved in 86% of cases. Common complications were access-site hematoma, fever, and infection; in-hospital mortality rate was 7%; procedural success rate was 83.6%. These findings emphasize the importance of early identification of prognostic factors that can easily lead to acute heart failure after myocardial infarction, in order to improve approaches and patient outcomes

NGHIÊN CỨU VỀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN NHU CẦU CHĂM SÓC GIẢM NHẸ CHO NGƯỜI BỆNH UNG THƯ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA VÙNG TÂY NGUYÊN NĂM 2024

FACTORS ASSOCIATED WITH PALLIATIVE CARENEEDS AMONG CANCER INPATIENTS AT TAY NGUYENREGIONAL GENERAL HOSPITAL

VŨ THỊ LAN ANH, Vu Thi Thu Huong

Trang 51-57

Lượt tải: 247 Lượt xem: 356

DOI: 10.63947/bvtn.v2i7.7

Ung thư là gánh nặng sức khỏe ngày càng gia tăng, đặc biệt ở người cao tuổi [14]. Chăm sóc giảm nhẹ (CSGN) có vai trò quan trọng trong nâng cao chất lượng sống cho người bệnh [17,18]. Nghiên cứu này nhằm xác định nhu cầu và các yếu tố liên quan đến CSGN ở người bệnh ung thư tại Bệnh viện Đa khoa vùng Tây Nguyên năm 2024. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 434 người bệnh ung thư ≥18 tuổi điều trị nội trú từ 01–09/2024. Dữ liệu được thu thập qua phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi cấu trúc. Phân tích thống kê sử dụng SPSS 20.0 với hồi quy logistic đa biến. Kết quả: Có 88,2% người bệnh có nhu cầu CSGN. Các nhu cầu cao nhất gồm giao tiếp & quan hệ cộng đồng (83,9%), hỗ trợ thể chất (81,8%), hỗ trợ tinh thần (73,5%). Các yếu tố liên quan đến nhu cầu cao gồm: nữ (OR=3,21; p=0,001), sống nông thôn (OR=2,61; p=0,004), nghỉ việc/hưu trí (OR=3,07; p=0,001), ung thư có di căn (OR=2,87; p=0,004) và có biến chứng (OR=2,45; p=0,012). Kết luận: Phần lớn người bệnh ung thư, đặc biệt nhóm cao tuổi, có nhu cầu CSGN đa dạng. Cần tích hợp yếu tố lão khoa vào CSGN để đáp ứng toàn diện các nhu cầu thể chất, tinh thần và xã hội, qua đó nâng cao chất lượng sống và giảm gánh nặng y tế.

Abstract:

Cancer is an increasing health burden, particularly among older adults [14]. Palliative care (PC) plays a crucial role in improving patients’ quality of life. This study aimed to identify palliative care needs and associated factors among cancer patients at the Central Highlands Regional General Hospital in 2024. Subjects and Methods: A cross-sectional descriptive study was conducted among 434 cancer patients aged ≥18 years hospitalized from January to September 2024. Data were collected through face-to-face interviews using a structured questionnaire. Statistical analysis was performed using SPSS 20.0 with multivariate logistic regression. Results: 88.2% of patients had palliative care needs. The highest needs included communication & social relationships (83.9%), physical support (81.8%), and psychological support (73.5%). Factors associated with higher needs included female gender (OR=3.21; p=0.001), rural residence (OR=2.61; p=0.004), unemployment/retirement (OR=3.07; p=0.001), metastatic cancer (OR=2.87; p=0.004), and presence of complications (OR=2.45; p=0.012). Conclusion: Most cancer patients, particularly older adults, have diverse palliative care needs. Integrating geriatric considerations into palliative care is essential to address physical, psychological, and social needs comprehensively, thereby improving quality of life and reducing healthcare burden.